
Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước hoạt động ở Hiệp Hoà những năm 1938-1945
II. HIỆP HOÀ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 5 NĂM LẦN THỨ NHẤT CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC ( 1961-1965).
1- Củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất, phát triển kinh tế.
Tháng 9-1960 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III nhấn mạnh nhiệm vụ tập trung mọi sự cố gắng: “Ra sức phát triển nông nghiệp… nhằm biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước… nông nghiệp hiện đại”. Và khẳng định “Nông nghiệp giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân… chúng ta chủ trương lấy sản xuất lương thực làm trọng tâm, đồng thời phát triển nông nghiệp một cách toàn diện… nông nghiệp làm cơ sở để phát triển công nghiệp”.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III là một sự kiện chính trị trọng đại, mở ra hướng đi lên của cách mạng Việt Nam .
Tháng 3-1961 Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ IV (vòng 2) đề ra phương hướng nhiệm vụ trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất của tỉnh. Tỉnh uỷ, Uỷ ban hành chính tỉnh đã có nhiều chủ trương biện pháp cụ thể phát triển sản xuất, củng cố HTX, hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, mở đợt “Chỉnh huấn mùa xuân 1961” nhằm nâng cao giác ngộ XHCN cho cán bộ đảng viên, lấy khẩu hiệu “HTX là nhà, xã viên là chủ” làm một trong những nội dung lớn để giáo dục xã viên.
Trong thời gian này, đồng chí Nguyễn Thanh Quất được Tỉnh ủy phân công nhận công tác khác, phân công đồng chí Ngô Như Ty, Tỉnh ủy viên về làm bí thư Huyện ủy. Tháng 11/1961, Đảng bộ Hiệp Hoà tổ chức Đại hội lần thứ VI (vòng 1). 127 đại biểu, đại diện cho 1.537 đảng viên về dự. Đại hội đề ra nhiệm vụ: “Toàn đảng bộ phát huy truyền thống cách mạng của quê hương, khắc phục bằng được những mặt yếu trong nhận thức về đường lối cách mạng trong lúc này, trước mắt củng cố những cơ sở kém, đưa tỷ lệ đảng viên và cơ sở đạt tỷ lệ 4 tốt cao hơn, ổn định tình hình HTX, cải tạo tiểu thủ công nghiệp, làm nghĩa vụ cho Nhà nước”. Đại hội đã bầu BCH gồm 18 đồng chí. 6 đồng chí trong Ban Thường vụ, đồng chí Ngô Như Ty được bầu làm Bí thư Huyện uỷ.
Thực hiện chủ trương đường lối của Trung ương và sự chỉ đạo của tỉnh, Huyện uỷ Hiệp Hoà đã từng bước triển khai các nhiệm vụ – trọng tâm là phát triển nông nghiệp, củng cố quan hệ sản xuất.
Bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, trong những năm 1961-1962, sản xuất nông nghiệp ở Hiệp Hoà đứng trước một thực trạng có nhiều khó khăn, bình quân ruộng đất 1 nhân khẩu là 3 sào 10 thước. Mỗi lao động chính phải đảm bảo cao nhất là 1 mẫu 1 sào; thấp nhất là 4 sào. Như vậy đất canh tác bình quân cho nhân khẩu hoặc lao động của Hiệp Hoà vào loại thấp trong tỉnh. Do thiếu sức kéo nên thường cày nông bừa dối, cấy trồng muộn; mức phân chuồng bón ruộng và nguồn phân khác như phù sa, lầm bùn, lá xanh, vôi cũng thiếu, nông cụ vừa thiếu vừa lạc hậu.
Vụ Đông – Xuân 1960-1961 là vụ đầu tiên thực hiện kế hoạch 5 năm sản xuất nông nghiệp theo tinh thần nghị quyết Đại hội III. Diện tích lúa chiêm vượt 12% kế hoạch , diện tích màu (nhất là mầu lương thực) tăng 80% KH, trong đó ngô 158% v.v… bình quân chung đạt 102% kế hoạch, là một trong 2 huyện khá nhất tỉnh. Về cây công nghiệp: đạt 102,7% KH, đỗ tương, dâu, mía thầu dầu, rau xanh… đều xấp xỉ kế hoạch. Trong tám chỉ tiêu của vụ đông xuân (Lúa, ngô, khoai, sắn, lạc, vừng, chẩu và thầu dầu), 7 chỉ tiêu huyện Hiệp Hoà đều đạt khá – là 1 trong 3 huyện khá nhất tỉnh Bắc Giang.
Công tác thuỷ lợi tiếp tục được đẩy mạnh. Năm 1962 ngoài 7 con ngòi đổ ra sông Cầu, có 229 mương máng nhỏ, 863 mẫu ao hồ. Về cơ bản đảm bảo được tưới tiêu, khắc phục được úng hạn cho 1460ha(*). Làm xong kè Vát để tiêu úng, là 1 trong 4 huyện hoàn thành và vượt mức khối lượng đắp đê cả năm . Cùng với thuỷ lợi, mỗi sào bón bình quân 5kg phốt phát, 7 gánh phân chuồng (không đạt kế hoạch nhưng tăng nhiều so với năm trước) cho cả lúa và mầu. Thực hiện nhiều biện pháp để làm phân và ủ phân như mua của xã viên trả bằng công điểm, thả bèo dâu, lấy phân xanh, nạo vét ao, hồ, mương, ngòi… kết hợp cải tiến áp dụng kỹ thuật vào sản xuất theo phương châm “Mỗi HTX có một mảnh đất thí nghiệm”, đặc biệt có 4 HTX đã thực hiện cấy thẳng hàng với cự ly 20×15 cm là kỹ thuật tiến bộ trong nông nghiệp.
Tiếp sau vụ đông – xuân có nhiều cố gắng, vụ thu và mùa trong huyện cấy được 8159 mẫu, bằng 110,8% KH – cao nhất tỉnh. Năng suất lúa cả năm đạt bình quân 1593kg/ha (lúa chiêm 2062kg/ha, thu 10.009 kg/ha, mùa 1413 kg/ha). Riêng hoa mầu đầu năm bị hạn nặng rồi úng ngập, khi ra hoa quả củ thì sâu bệnh phá hoại nên nhìn chung năng suất không cao.
Về chăn nuôi: năm 1961 giảm so với 1960 : 5% về trâu bò (riêng trâu bò cày 7%) lợn 15%… nhưng đã xây dựng được 14 trại chăn nuôi tập thể. Nghề cá phát triển nhanh : có 21 tổ ươm cá giống vượt năm 1960 là 23% số cá con.
Về giao thông và xây dựng cơ bản đã sửa đường 19 (Nay là Quốc lộ 37 Thắng đi Đình Trám), bước đầu xây dựng liên hoàn hệ thống sân phơi nhà kho chuồng trại.
Về lâm nghiệp: trồng rừng đạt 107% kế hoạch , cao nhất tỉnh, chủ yếu là xoan, trẩu, bạch đàn… với hơn 8000 cây trồng ven đường, đồi trọc, thực hiện “Khoác áo xanh cho quê hương”. Hiệp Hoà là 1 trong 4 huyện có nhiều vườn ươm cây với 12/17 HTX toàn tỉnh. Đảm bảo sống sau khi trồng là 87% , có biện pháp bảo vệ tốt…
Như vậy, sản xuất nông lâm nghiệp của Hiệp Hoà năm 1961 – năm có ý nghĩa to lớn – như hội nghị cán bộ toàn huyện tháng 2/1962 đánh giá “…Diện tích cây trồng chủ yếu là lúa tăng nhanh. Cây mầu có bột (ngô, khoai, sắn…) và cây rau mầu ngắn ngày cũng tăng. Thực hiện luân canh gối vụ , cải tạo đất, “Không cho đất nghỉ”, tăng cả diện tích và năng suất, đảm bảo cơ bản về tự túc lương thực thực phẩm…”.
Về củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất : Nghị quyết Bộ Chính trị ra 2/1961 chỉ rõ, phải : ” Tích cực củng cố và phát triển HTX để đẩy mạnh sản xuất, lấy việc củng cố lực lượng HTX về mọi mặt, mở rộng quy mô HTX và phát triển sản xuất làm nhiệm vụ trọng tâm, đồng thời đưa một phần HTX từ bậc thấp lên bậc cao và tiếp tục đưa nông dân làm riêng lẻ vào HTX trên cơ sở đó mà động viên nông dân ra sức phấn đấu và hoàn thành vượt mức kế hoạch nhà nước… góp phần xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của CNXH và cải thiện đời sống nhân dân thêm một bước” , “Dựa vào tình hình thực tế hiện nay có thể đưa quy mô HTX vào khoảng từ 100 đến 200 hộ trong phạm vi một thôn nhỏ và vừa ở đồng bằng và trung du…”
Hiệp Hoà là huyện đông dân(*) trong phong trào hợp tác hóa đã xuất hiện những non kém về quản lý và phức tạp biểu hiện ở tình hình không ổn định. Sản xuất có khá hơn nhưng chậm, có lúc có nơi không vững. Tư tưởng, tâm lý nông dân, tình cảm xóm làng bị chi phối – dẫn đến trông chờ, ỷ lại, “Chân trong chân ngoài”…
Trong 2 tháng cuối năm 1960, do nhiều nguyên nhân, tuy là những HTX bậc thấp nhưng toàn huyện đã có 280 hộ xã viên xin ra (đông nhất tỉnh). Xã Hương Lâm có 141 hộ – nhiều nhất huyện – khi ra, xã viên không trả ruộng đất, trâu bò… cho HTX.
Từ đầu năm 1961 phong trào hợp tác hoá càng khó khăn hơn, một số nơi đã hợp nhất ồ ạt đưa các HTX nhỏ thành HTX bậc cao. Trong 2 tháng, sáp nhập 17 HTX thành 6 HTX lớn, có từ 260 hộ trở lên, có 1 HTX 519 hộ (HTX Trung Hoà). Toàn huyện kết nạp 961 hộ. Cho nên đến cuối năm đã có 85 HTX hợp nhất. Một số hộ vào – ra hai ba lần. Đặc biệt khi tiến hành hợp nhất ở xã Hương Lâm và xã Mai Đình, các HTX nhỏ “tranh thủ” tẩu tán tài sản, chia hết giống vốn, chặt phá cả những vườn cây lấy gỗ, lấy quả gây bất bình trong nhân dân. ở các xã, tháng nào cũng có hộ xin ra. Phân loại HTX trong năm 1961 có 24% loại khá, 47% trung bình, còn lại là kém nát. Nguyên nhân có nhiều nhưng “Chủ yếu làm cho các HTX yếu kém là do cán bộ đảng viên không gương mẫu, tư lợi, thiếu dân chủ, quản lý kém, cày sau, cấy muộn, thu nhập thấp, tài chính không minh bạch”.
Cùng một thời điểm, cùng dưới sự chỉ đạo của Huyện uỷ, nhưng kết quả ở từng cơ sở lại khác nhau. Có nơi chưa đủ điều kiện nhưng vẫn cứ hợp nhất – thậm trí hợp nhất toàn xã – do tư tưởng cán bộ muốn “ăn to” có thành tích để báo cáo, coi nhẹ công tác giáo dục tư tưởng, lướt nhanh làm ẩu – như xã Thái Sơn, Hùng Sơn, Thường Thắng. Hoặc đội ngũ lãnh đạo nghi kỵ lẫn nhau, dấu sản, dấu quỹ, gò ép quần chúng, làm rồi phải bỏ dở – như xã Hoàng Vân. Hoặc xã Đức Thắng định hợp nhất 3 HTX nhỏ làm một nhưng cán bộ lãnh đạo đều yếu, tổ đảng chưa thông, quần chúng không tán thành nên học rồi phải để lại. Hoặc đã hợp nhất nhưng do làm không tốt nên phải tách ra 2 HTX nhỏ như ở xã Đồng Tân… Trái lại , “Xã Đông Lỗ sáp nhập 3 HTX nhỏ (Chằm, Khoát, Chúng) với 310 hộ xã viên – làm ăn tốt – vụ chiêm gặt 4000 mẫu 6 sào, cấy 183 mẫu Ba giăng nhanh gọn, đủ phân chuồng 200kg/ sào, được Tỉnh uỷ biểu dương”.
Nhìn chung phong trào hợp tác hoá trong huyện còn nhiều hạn chế, yếu kém. Với yêu cầu của cách mạng XHCN, Huyện uỷ họp tháng 2/1961 đã đặt ra “… Phải tập trung cán bộ, đầu tư vốn, kỹ thuật…. củng cố các HTX yếu kém giữ vững những thành tựu, đáp ứng nhiều hơn cho đất nước nhất là củng cố quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp”. Huyện uỷ khẩn trương trưng tập 95 cán bộ, chia thành 3 tổ công tác đi về nông thôn để nắm thực chất từng cơ sở. Những tồn tại chủ yếu của các HTX là nghiệp vụ của các Ban quản trị yếu, thường xuyên vi phạm nguyên tắc, tham ô lãnh phí, bảo quản tài sản, nhất là chăm sóc trâu bò kém, không sử dụng hết lao động…
Xuất phát từ thực tế, thực hiện lời dạy của Bác Hồ trong dịp về thăm tỉnh Bắc Giang ngày 6-4-1961 và chủ trương của Tỉnh uỷ – Một phong trào thi đua trong toàn huyện với mục đích phát động “Những người xung phong tình nguyện vượt kế hoạch 5 năm nhằm nâng cao giác ngộ XHCN trong quần chúng, nhất là thanh niên, giáo dục sâu sắc tình thần xung phong tình nguyện tự giác trong mọi hoàn cảnh, mọi công việc…”. Đây là một sáng kiến, một phong trào, một phương thức hoạt động rất quan trọng cổ vũ thanh niên suy nghĩ và hành động như những người lính xung kích cống hiến hết sức mình cho sự nghiệp xây dựng CNXH và đấu tranh thống nhất nước nhà. Giáo dục bồi dưỡng họ trở thành những “con người mới XHCN”. Học tập lời dạy của Bác Hồ với khẩu hiệu “Thi đua và đuổi kịp HTX Đại Phong” (Quảng Bình). Kết quả bước đầu, cuối vụ xuân hè 1961 toàn huyện có thêm 1083 hộ xã viên mới, đẩy mạnh tăng vụ, tăng diện tích và nâng kế hoạch lên 7640 mẫu lúa Ba giăng, Nam Ninh so với kế hoạch ban đầu. Nhiều mặt được chỉnh đốn, bổ sung, dồn sức cho sản xuất. Tỉnh uỷ đặc biệt quan tâm đến tình hình hợp tác hoá ở Hiệp Hoà, đã xác định: “Trong thời gian tới phải chú ý nhiều nhiệm vụ củng cố phát triển HTX nông nghiệp, phải tập trung vào củng cố phong trào huyện Hiệp Hoà”(*). Các địa phương, các tổ chức thanh niên, phụ nữ, dân quân, ban tuyên huấn, tổ chức và các ngành trực tiếp liên quan đến nông thôn, nông nghiệp đã thực hiện những biện pháp tích cực hơn và phối hợp chặt chẽ nhằm tăng cường giáo dục tư tưởng, đẩy mạnh sản xuất trong các HTX. Huyện uỷ chỉ đạo tiếp 2 đợt củng cố. Uỷ ban huyện mở 14 lớp tập huấn từ 2 đến 4 ngày cho 1216 cán bộ HTX.
Ngoài ra các ban ngành chuyên môn cũng mở nhiều lớp bồi dưỡng nghiệp vụ. Kết hợp các hoạt động văn hoá văn nghệ, tuyên truyền cổ động… làm cho nhân dân hiểu rõ hơn “Vào HTX là yêu nước, yêu chế độ XHCN”.
Tháng 3-1963 Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ VI (vòng 2) đề ra các mục tiêu:
– Tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt 40.926 tấn.
– Bình quân lương thực đầu người 433 kg/năm (kể cả mầu quy thóc).
– Chăn nuôi : có 13000 con trâu bò, 40.000 con lợn (2 con lợn và 15 con gà/ hộ), 3 triệu con cá…
Với phương châm hành động và tinh thần tiến công, Đại hội đã xây dựng quyết tâm đề ra nhiệm vụ sản xuất nông nghiệp phải giành “Năng suất cao, hoa mầu nhiều, chăn nuôi giỏi, cây công nghiệp tăng… Nông nghiệp cùng các mặt trận khác – mỗi người làm việc bằng 2, ra sức xây dựng và bảo vệ miền Bắc, hết lòng ủng hộ đồng bào miền Nam”.
Cuối năm 1963 chỉ số quay vòng sử dụng đất từ 1,7 (1962) lên 1,82. Tổng diện tích gieo trồng cả năm tăng 9%, tổng sản lượng lương thực tăng 10%, bình quân lương thực đầu người 402,5 kg.
Trên mặt trận thuỷ lợi – Cải tạo đất, thực hiện khẩu hiệu và phương châm “Nhất nước nhì phân, đồng khởi tiến quân, toàn dân tham gia” để “Giữ nước trên cao, đắp ngăn từng chặng, đảm bảo thắng hạn, chống nạn úng thuỷ” và “Thuỷ lợi càng tốt, dân càng ấm no”.
Trong 3 năm (1961-1963) đã huy động 23.564 lượt người, 435.600 ngày công cùng nhiều nguyên vật liệu, vốn cho thuỷ lợi. Vụ mùa năm 1964 khối lượng đào đắp bằng 390% so với vụ mùa năm 1963, 100% số HTX làm bờ thửa (gấp 2 lần năm 1963). Đắp mới 225 đập nước, đào thêm 32 hồ… Cơ sở vật chất, phương tiện lao động, kinh phí và tổ chức ngày một khá. Với hơn 50% diện tích canh tác của huyện là đất bạc mầu nặng nên việc cải tạo đất là hết sức quan trọng. Phong trào làm phân xanh (chủ yếu là bèo dâu) liên tục và mạnh mẽ góp phần đáng kể làm tăng năng suất bình quân 10kg thóc /sào.
Ngoài việc coi trọng nước, phân, về giống năm 1963 có 45 mẫu ruộng chọn giống, 149 bể lọc giống, 34 lò ủ mầm. Trong vụ đông xuân 1963-1964 có 60% thóc mạ được ngâm “3 sôi 2 lạnh” tăng hơn vụ năm 1962 là 20%. Việc phòng trừ sâu bệnh có tiến bộ, áp dụng nhiều biện pháp và hiệu quả cao (trung bình 1 đèn bẫy bướm/hộ nông dân…).
Phong trào làm xe, cày bừa cải tiến đã phục vụ kịp thời nhu cầu sản xuất. Năm 1964 toàn huyện có 4012 cày cải tiến (vượt 8% KH) 3617 nạo cỏ cải tiến (tăng 77% KH) xe cải tiến các loại 427 chiếc tăng 12% KH)… Hệ thống đường nội ngoại đồng được nâng cấp, mở rộng (năm 1964 tăng hơn 1962 là 347 km…)
Các đợt cải tiến công tác quản lý hợp tác xã đã mang lại hiệu quả thiết thực: Công tác quản lý trong các hợp tác xã được củng cố, chấn chỉnh; số ngày công lao động tăng, thu nhập của xã viên và HTX tăng. Từ chỗ thiếu ăn, ít hoa mầu lương thực, không có cây công nghiệp, không có nghề phụ đến chỗ có nông sản bán cho Nhà nước, có thêm nhiều nghề phụ như làm gạch ngói, chăn nuôi tập thể, trồng cây, sửa chữa nông cụ … Phong trào hợp tác hoá ở HTX Trung Hòa, Cẩm Trang (Mai Trung), HTX Bình Dương (Ngọc Sơn). Tam Hợp, Cộng Đồng (Bắc Lý), Đại Đồng (Danh Thắng)… là những HTX tiêu biểu. Tuy nhiên, còn nhiều HTX yếu kém: Chưa tận dụng hết tiềm năng lao động , đất đai, đời sống còn khó khăn, chăn nuôi tập thể có tăng nhưng chậm, thực hiện phong trào “Thêm công thêm sức thêm thu nhập, nâng cao đời sống xã viên, làm giầu cho đất nước” còn chưa sâu rộng. Chỉ tiêu sản lượng hoa mầu lương thực và cây công nghiệp hụt 20% KH (1964). Tăng diện tích nhưng chưa tăng được năng suất nên lương thực chưa thật ổn định. Việc tuyên truyền giáo dục nông dân vào HTX chưa thường xuyên, thiếu dân chủ, mỗi năm có hơn 300 hộ ra HTX. Việc xử lý các vi phạm trong các HTX còn chậm. Thanh quyết toán từng vụ từng năm không kịp thời. Tỷ lệ phân phối hoa lợi của tập thể, đại bộ phận đạt dưới 50% thu nhập của mỗi hộ xã viên. Đội ngũ cán bộ HTX còn yếu kém nhiều mặt, bồi dưỡng đào tạo chưa kịp thời… nên ” … Phong trào HTX của chúng ta vẫn chưa được thực sự vững mạnh, diễn biến phức tạp, có những yếu kém trầm trọng”(*). Trong bối cảnh chung của phong trào hợp tác hoá ở miền Bắc và nhìn tổng thể từ năm 1958 đến 1964 như Bác Hồ đánh giá: “Chúng ta nhất trí nhận rằng phong trào HTX nói chung tốt. Đồng thời chúng ta cũng thấy nó vẫn còn những khuyết điểm cần phải sửa chữa. Đó là khuyết điểm trong lúc phát triển. Ví như đứa con lớn quá nhanh, áo quần may tháng này thì tháng sau đã chật. Khuyết điểm phổ biến nhất là nhiều ban quản trị còn yếu, vì cán bộ tiến không kịp với mức độ phát triển của HTX, ví như những tiểu đội trưởng mà phải chỉ huy những đại đội hoặc những tiểu đoàn. Chúng ta cần phải giúp cán bộ tiến cho kịp với những nhiệm vụ của họ”.
Trên nền tảng quan hệ sản xuất mới, kinh tế tập thể giữ vai trò chủ đạo đã tác động tích cực đến công tác thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước. Năm 1963 thu mua lương thực, đóng thuế nông nghiệp, thuỷ lợi phí đạt 108% KH. Năm 1964 tiến độ nhập kho vụ mùa trong 12 ngày (gấp 10 lần vụ mùa năm 1963) rút ngắn được hơn 3 tháng trong khi khối lượng thóc gấp gần 2 lần. Thu mua ngoài nghĩa vụ tăng 17 lần so với 1963. Số đơn vị hoàn thành cũng tăng : 1963 có 52 HTX, 1964 có 123 HTX. Hộ cá thể hoàn thành : 1963 là 63%, 1964 là 95,5%… Trong bối cảnh phong trào HT hoá của chúng ta vẫn chưa thực sự vững chắc thì kết quả trên là một sự cố gắng rất lớn: “Là thành tích có tính lịch sử của Đảng bộ và nhân dân huyện ta trong việc thực hiện nghĩa vụ lương thực đối với Nhà nước từ trước đến nay”.
Về nông sản, doanh thu từ 1961 đến 1964 đạt từ 93 đến 105% KH. Đặc biệt thu mua lạc vỏ và đỗ các loại năm nào cũng vượt từ 10 đến 20%
Về thương nghiệp tổng doanh thu: 1961 đạt 93% KH, 1962 đạt 96% KH, 1963 đạt 108% KH, 1964 đạt 101% KH. Mạng lưới thương nghiệp cơ sở được mở rộng và kiện toàn. 100% số xã có HX mua bán với 35 cửa hàng, 156 cán bộ nhân viên. Tinh thần phục vụ tốt, năng động, làm lợi cho nông dân trong năm 1963 và 6 tháng đầu năm 1964 hơn 22.000 ngày công vận chuyển, tiết kiệm cho Nhà nước 3838 đồng. Hình thức HTX mua bán vẫn là một trong ba ngọn cờ hồng, người nội trợ đắc lực, phát huy tác dụng trong nền kinh tế XHCN. Tiểu thủ công nghiệp cũng có bước chuyển biến khá. Tổng giá trị sản lượng đạt 140% kế hoạch (có 90 lò gạch, vôi sản xuất được 7 triệu viên và 1.125 tấn). Nghề trồng dâu nuôi tằm, nghề rèn, nghề mộc, đan lát được phục hồi.
Về xây dựng cơ bản: Huyện đã tập trung đầu tư để phát triển kinh tế xã hội, xây dựng nông thôn mới: Xây được 24 đập thuỷ lợi, 240 cầu cống (đạt 120% KH), 38 lớp học lợp ngói, 154 nhà trẻ, 58 lớp học nhà tranh, 367 sân phơi, 170 nhà kho, 344 nhà ủ phân v.v…
Việc cải tạo tiểu thương và thợ thủ công, quản lý thị trường tư nhân và xây dựng thị trường XHCN trong mấy năm liền được tiến hành đều đặn, có kết quả. Đến cuối 1964 có 83,7% hộ tiểu thương được đưa vào các tổ, 89% hộ tiểu thủ công nghiệp thành lập 54 HTX. ổn định xắp xếp lại các nơi buôn bán, bình ổn giá cả. Đưa 15 mẫu ruộng, đất ở ven thị trấn vào chuyên canh, phân định lại quyền sở hữu và nghĩa vụ Nhà nước. Nạn buôn bán tự do, đầu cơ tích trữ, nấu rượu lậu, làm bánh kẹo bằng lương thực giảm, có tác dụng hỗ trợ cho công cuộc cải tạo XHCN đối với công thương nghiệp. Mỗi năm tiết kiệm cho Nhà nước hơn 34 tấn lương thực… Cửa hàng thực phẩm và trạm tư liệu vinh dự đón nhận danh hiệu “Đơn vị lao động XHCN” của Chính phủ.
Tuy nhiên, ngành thương nghiệp và lương thực còn những mặt yếu: Biện pháp giáo dục cán bộ có lúc buông lỏng, thiếu kiên quyết (14 vụ buôn lậu, 31 đối tượng vi phạm chính sách lương thực, vụ mùa năm 1963 thiếu hụt 125 tấn so với chỉ tiêu thuế của huyện); thuế công thương nghiệp đạt và vượt kế hoạch nhưng thu ngân sách xã thường không đạt, (năm 1963 chỉ đạt 50,5% KH).
Ngân hàng tín dụng trong những năm đầu của kế hoạch 5 năm có nhiều cố gắng: 100% số xã có HTX tín dụng, hoạt động tích cực, có lãi, phục vụ các HTX nông nghiệp đầu tư vào xây dựng cơ bản, sản xuất và đời sống nhân dân. Năm 1963 và 6 tháng đầu năm 1964 Ngân hàng huyện đã cho nông dân vay 809.000đ (107% KH), thu nợ ngắn hạn đạt 427.000đ (117%). Song việc huy động vốn ở các xã còn yếu chỉ có 4 xã đạt 100-121% KH. Các xã: Quang Minh, Hoàng Lương, Hoàng Thanh, Thanh Vân, Hợp Thịnh, Đại Thành, Hương Lâm đạt 40-60%.
Ngành bưu điện – đảm bảo giao thông liên lạc giữa các cấp. Doanh thu hàng năm đều đạt kế hoạch (năm 1963 đạt 117%, năm thu cao nhất), tuy vậy trong 4 năm (1961-1964) vẫn để xẩy ra tình trạng chuyển chậm, nhầm lẫn, thất lạc (bình quân 14 lần/ năm).
2. Đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá xã hội:
Thực hiện đường lối giáo dục của Đảng “Học với hành”, “Nhà trường gắn với địa phương”, sự nghiệp giáo dục phát triển nhanh và toàn diện.
Ngành học phổ thông, bằng kinh phí của Nhà nước và nhân dân đóng góp, huyện đã có 10 trường phổ thông cấp II và 1 trường phổ thông cấp III(*). Số học sinh, số lớp, số giáo viên năm học sau cao hơn năm học trước. Chất lượng dạy và học ngày một nâng lên. Bình quân các năm, học sinh cấp I, II, III đỗ tốt nghiệp 75%-98%, lên lớp 80-99%. Toàn ngành có 6 tổ giáo viên được công nhận “Tổ lao động XHCN”, 134 giáo viên là “lao động tiến tiến” 13 giáo viên được nhận “Huy hiệu Bác Hồ”, 14 vườn, ao, phòng thí nghiệm được xếp loại A của tỉnh Hà Bắc. Nhiều đợt tham gia lao động ngoại khoá, giúp đỡ HTX trong mùa vụ và áp dụng KHKT vào sản xuất, có 6 trường tiên tiến, trong đó trường phổ thông cấp II Hiệp Hoà là đơn vị tiên tiến xuất sắc vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng 3 và danh hiệu trường tiên tiến toàn miền Bắc.
Về y tế: Từ năm 1961 đến hết năm 1964 có những tiến bộ về tổ chức và chuyên môn. Ngành có 4 bác sỹ, 18 y sỹ, gần 1000 y tá và vệ sinh viên, 342 giường bệnh, 146 tủ thuốc, các trạm xá đều có vườn cây dược liệu và 1-2 tổ đông y, vận động nhân dân trồng và dùng thuốc nam, chữa bệnh tại nhà. Thành lập 1 trạm y tế chống lao ở xã Xuân Cẩm (chữa khỏi 16 người) khám 1760 người bệnh lao và sốt rét. Nhiều bệnh thông thường được khám chữa kịp thời: Tiêm thuốc chống bại liệt cho 36308 cháu, phòng ho gà 8660 em, tiêm BCC (chống lao) 3701 trẻ sơ sinh, chữa mắt hột 8885 người, mổ quặm 1921 người, đỡ đẻ an toàn 4709 chị em, tổ chức được 51 tổ trợ sản. Phong trào vệ sinh vẫn được duy trì tốt như làm nhà tắm, hố xí 2 ngăn, giếng nước sạch, ngủ màn… Với sự cố gắng của ngành y tế “Sức khoẻ của nhân dân đã được nâng lên… tuổi thọ trung bình tăng dần, bệnh xã hội giảm rõ rệt…”. Ngành y tế Hiệp Hoà vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng 3.
3. Tăng cường an ninh quốc phòng, sẵn sàng chiến đấu và chi viện:
Đế quốc Mỹ đánh phá ra miền Bắc. Cả nước có chiến tranh. Địch dùng máy bay thả truyền đơn và do thám ở Hiệp Hoà. Thế trận chiến tranh nhân dân được triển khai ở khắp các địa phương. Công tác nội chính, giữ gìn trật tự trị an, xây dựng và củng cố quốc phòng toàn dân, sẵn sàng chiến đấu và chi viện cho sự nghiệp giải phóng miền Nam được tăng cường.
Nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước đã thể hiện rõ đường lối chiến tranh của Đảng. Ngày 9/1/1964 Hội nghị về công tác phòng không nhân dân toàn miền Bắc đã đề ra chủ trương và biện pháp về chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của giặc Mỹ. Ngày 7/3/1964 Tỉnh uỷ ra Nghị quyết về công tác quân sự địa phương và giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Huyện uỷ, ngày 5/5/1964 UBHC huyện ra kế hoạch phòng không nhân dân với phương châm “Lấy phòng không chủ động là chính”nhằm bảo vệ tính mạng tài sản của nhân dân, bảo vệ sản xuất, trật tự trị an xã hội. Kết hợp “Phòng không tích cực” của lực lượng vũ trang và bán vũ trang của huyện là quan trọng, đánh địch tại chỗ. Ban tổ chức phòng không huyện do đồng chí chủ tịch làm trưởng ban, huyện đội trưởng làm tham mưu trưởng, trưởng các ngành làm thành viên (ở xã cũng có cơ cấu như vậy). Các cơ quan đơn vị trường học thành lập các tổ chuyên môn (ứng cứu chữa cháy, thông tin, bảo vệ trật tự, tác chiến). Riêng thị trấn có thêm 1 tổ hướng dẫn nhân dân sơ tán. Huyện có 2 địa điểm canh gác phòng không: Đồi Sơn Giao (xã Ngọc Sơn) và Uỷ ban huyện. Hiệu lệnh báo động được thống nhất từ huyện đến xã. Đồng thời công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho nhân dân được các cấp uỷ và chính quyền đặt lên hàng đầu và thường xuyên, làm cho mọi người hiểu rõ tình hình đất nước, tích cực chủ động, tự tin bước vào cuộc chiến đấu mới. Lực lượng dân quân tự vệ phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Năm 1964 so với năm 1962 tăng 6 lần về quân số, 12 lần về trang bị vũ khí và phương tiện chiến đấu. Trong huấn luyện năm 1963 đạt yêu cầu 97,4%, năm 1964 đạt 98,4% (trong đó khá giỏi là 72%). Hàng năm đều tổ chức huấn luyện và diễn tập. Một số kỹ chiến thuật mới được áp dụng. Tình thần tham gia rất hăng say, được nhân dân và các HTX quan tâm giúp đỡ cả về tình cảm và vật chất. Trong huấn luyện, bồi dưỡng chính trị, dấy lên phong trào “3 nhất” và “Quân sự hoá sản xuất, vũ trang hoá toàn dân”, “Giỏi tay cầy, hay tay súng”. Năm 1964 huyện Hiệp Hoà kết nghĩa với huyện Đa Phúc (*) nhằm phối hợp lực lượng, trao đổi kinh nghiệm trong sản xuất và huấn luyện quân sự. Đợt học tập Nghị quyết Bộ chính trị “Nhận rõ tình hình âm mưu của địch và nhiệm vụ của ta” có 6070 lượt cán bộ chiến sỹ dân quân tự vệ tham gia. Ngày 20-7 hơn 2 vạn người mít tinh tuần hành, biểu dương sức mạnh “Bừng bừng khí thế cách mạng, đó là sự chuyển biến rất lớn trong phong trào xây dựng lực lượng hậu bị chưa từng có từ ngày hoà bình lập lại đến nay”(**). Về nhiệm vụ tuyển quân, do làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng nên tinh thần khám sức khoẻ của anh em thanh niên rất sôi nổi. Năm 1962 đạt 98%, năm 1963 đạt 98,7% và 1964 đạt 104% KH. Ba năm có 868 thanh niên đi nhập ngũ, bảo đảm chất lượng và chế độ chính sách. Công tác hậu phương quân đội nhất là với thương binh liệt sỹ, do được quan tâm đầy đủ, đã có tác dụng tích cực.
4. Xây dựng Đảng, chính quyền và đoàn thể:
Lúc này cách mạng Việt Nam đứng trước những thử thách nghiêm trọng. Sức mạnh tổng hợp của dân tộc và thời đại được phát huy cao độ nhằm bảo vệ chế độ XHCN, đánh bại cuộc phiêu lưu quân sự của đế quốc Mỹ và tay sai. Nhiệm vụ giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ đảng viên và nhân dân càng cấp bách và hết sức quan trọng.
Năm 1964, Huyện uỷ mở nhiều lớp tập huấn, giáo dục chính trị và bồi dưỡng đảng viên theo chương trình lý luận sơ cấp. Đợt “Giáo dục mùa xuân” trong toàn Đảng bộ có 98% đảng viên tham gia. Đợt 2 “Giáo dục mùa thu” đạt 100%. Đặc biệt trong dịp học nghị quyết 39/BCT-TW (phần I- Tình hình cách mạng Việt Nam) do Tỉnh uỷ chỉ đạo, Huyện uỷ đã tổ chức rất chặt chẽ, làm điểm ở một đảng bộ khá (Danh Thắng), một đảng bộ yếu (Hoàng An), do 5 đồng chí Thường vụ ( trong đó có Bí thư Huyện uỷ) cùng ban Tuyên huấn trực tiếp quản lý và truyền đạt Nghị quyết đã có hiệu quả cao và những kinh nghiệm quý. Sau đó Huyện uỷ mở đồng loạt cả 11 chi bộ cơ quan và các đảng bộ nông thôn. Tiếp đến học phần 2 của Nghị quyết về “Vị trí vai trò của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và mối quan hệ cách mạng giữa 2 miền”. Mở rộng đến quần chúng học Chỉ thị 77 Tỉnh uỷ về cuộc phát động thi đua thực hiện kế hoạch Nhà nước, thảo luận những bài viết của đồng chí Lê Duẩn và đồng chí Tố Hữu làm rõ hơn tình hình cách mạng Việt Nam. Đồng thời Huyện uỷ mở riêng 2 lớp bồi dưỡng đảng viên nữ (175 đ/c) về truyền thống phụ nữ Việt nam và phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng hiện nay…
Trong chỉ đạo học tập, Huyện uỷ đã dùng nhiều hình thức phù hợp với từng thành phần: có hội nghị dành riêng cho tổ trưởng Đảng, có hội nghị toàn Đảng bộ, chi bộ, có hội nghị phổ biến nhanh rộng trong quần chúng để phát động thi đua, hoặc có hội nghị dành riêng cho cá thể để giáo dục, giao nhiệm vụ thực hiện. Tại các hội nghị Huyện uỷ chỉ đạo chặt chẽ nội dung, có liên hệ so sánh đời sống nhân dân trong 10 năm (1954-1964).
Qua các đợt học tập, giáo dục đã làm cho đảng viên nhận thức rõ hơn về vai trò, tính chất tiên phong và nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới, đặc biệt có nhận thức sâu sắc về cuộc đấu tranh kiên cường bất khuất, hy sinh gian khổ của quân và dân miền Nam qua 20 năm chống đế quốc và tay sai. Đồng thời trang bị cho cán bộ đảng viên hiểu đúng hơn về những vấn đề quan trọng như: Tính chất của thời đại; Vấn đề so sánh lực lượng giữa ta và địch, giữa chiến tranh và hoà bình; Vấn đề giải phóng dân tộc – và sự khác nhau giữa chủ nghĩa Mác- Lênin và chủ nghĩa xét lại hiện đại. Tư tưởng cầu an hưởng lạc, hoà bình, mất cảnh giác, ngại khó ngại khổ, sợ hy sinh phấn đấu, kém trách nhiệm, vô ý thức tổ chức kỷ luật… trong Đảng đã giảm rõ rệt. Tuy nhiên do ảnh hưởng của tình hình thế giới – Nhất là chủ nghĩa xét lại ở Liên Xô và việc giáo dục truyền thống lịch sử chưa được coi trọng nên có một số đảng viên hoang mang dao động, hoài nghi về sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân và sự tất thắng của cách mạng Việt Nam.
Từ sự chuyển biến về chính trị tư tưởng, đảng viên và quần chúng sôi nổi thực hiện kế hoạch và các chỉ tiêu trên giao. Năm 1964, trong “Vụ mùa vì miền Nam ruột thịt”, khí thế lao động và chấp hành các chính sách đã đi vào ý thức tự giác, tự nguyện của mọi người. Nhiều cán bộ đảng viên trở thành tấm gương sáng. Nhiều cơ sở Đảng tích cực vươn lên. Tỷ lệ đảng viên khá từ 26% năm 1962 lên 57% năm 1964, loại kém từ 14% giảm xuống 9,2%. Năm 1964 có 257 đảng viên từ loại kém lên trung bình và từ trung bình lên khá, xây dựng được 4 chi bộ từ kém lên “4 tốt” 66 đảng viên được quần chúng suy tôn là kiện tướng, lao động tiên tiến và chiến sỹ thi đua.
Từ ngày 10 đến ngày 13/3 năm 1963 Đảng bộ Hiệp Hoà tổ chức Đại hội lần thứ VI (vòng 2), có 95 đại biểu, thay mặt 1662 đảng viên tham dự. BCH mới gồm 21 đồng chí (tăng 3 đ/c so với vòng 1), đồng chí Ngô Như Ty được bầu lại làm Bí thư Huyện uỷ.
Trong 2 ngày 24 và 25/9/1964 tổ chức Đại hội Đảng bộ lần thứ VII, nhiệm kỳ 2 năm (1964-1966); 112 đại biểu thay mặt cho 1791 đảng viên về dự đại hội. Đại hội đã bầu BCH Đảng bộ gồm 21 đồng chí (7 đ/c trong Ban Thường vụ), đồng chí Đặng Văn Thọ được bầu làm Bí thư Huyện uỷ (thay đồng chí Ngô Như Ty chuyển công tác khác).
Xuất phát từ tình hình nhiệm vụ, để tăng cường lãnh đạo cơ sở, Huyện uỷ phân công 7 đ/c Huyện uỷ viên trực tiếp phụ trách từ đội sản xuất đến xã (xã Đông Lỗ, Mai Trung, Đức Thắng, Lương Phong, HTX Trung Hoà, đội sản xuất Chớp…). Về nhiệm vụ an ninh, quốc phòng do 5 đồng chí Huyện uỷ viên đảm nhiệm (Nội chính, Huyện đội, Công an, Phòng không nhân dân, Lực lượng hậu bị). Trong các nhiệm vụ Huyện uỷ chủ trương tăng cường đảng viên nắm giữ các cương vị chủ chốt, trước hết là chính quyền các cấp.
Tháng 6-1961 bầu cử HĐND huyện có 98% tổng số đảng viên tham gia bỏ phiếu. Có 27/44 đảng viên là đại biểu Hội đồng nhân dân huyện.
Ngày 25-3-1962 trong cuộc bầu cử HĐND tỉnh Bắc Giang, số đảng viên tham gia bỏ phiếu đạt 79,9%. Năm 1963 tổng số cử tri đi bỏ phiếu bầu cử Hội đồng nhân dân huyện khoá II và Hội đồng nhân dân xã là 39.941 người (94,7%) bầu được 47 đại biểu HĐND huyện và 822 đại biểu Hội đồng nhân dân xã. Các cuộc bầu cử đều là những cuộc sinh hoạt chính trị rộng rãi, nhân dân phấn khởi thấy rõ quyền làm chủ của mình, đã sáng suốt lựa chọn những đại biểu xứng đáng vào HĐND các cấp, chú trọng thành phần đại biểu là phụ nữ và thanh niên, (phụ nữ 20%, thanh niên 30%). Trong Hội đồng hầu hết các đại biểu đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu chấp hành chính sách của Đảng, Nhà nước và các nghị quyết của Hội đồng, lắng nghe ý kiến của quần chúng. Tuy nhiên cũng còn một số ít đại biểu thiếu gương mẫu, (nhất là cấp xã) như xin ra HTX, nợ dây dưa, lợi dụng tham ô, gây bè phái, ỷ lại… làm ảnh hưởng không tốt đến uy tín của chính quyền.
Mặt trận Tổ quốc trong phong trào kết nghĩa Bắc Giang – Sóc Trăng (sau là Hà Bắc – Chợ Lớn – Sóc Trăng) đã giáo dục động viên tuyên truyền toàn dân đoàn kết hăng hái chấp hành chính sách của Đảng và Nhà nước . Mặt trận Tổ quốc huyện đã tổ chức lao động tự nguyện ngoài giờ được hơn 14.000đ ủng hộ đồng bào miền Nam, tổ chức được 156 cuộc mít tinh với trên 125.700 lượt người tham dự, tuyên truyền về cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào Miền Nam. Tiêu biểu là 20-7-1964 với hơn 20.000 người mít tinh tuần hành mang theo cờ khẩu hiệu, vũ khí thô sơ, gửi 290 đơn kiến nghị cho Uỷ ban hoà bình Quốc tế… Sau mỗi cuộc mít tinh, lòng căm thù đế quốc Mỹ và tay sai của quần chúng nhân dân hừng hực trào dâng. Mỗi việc làm, mỗi hành động đều vì CNXH, vì miền Nam ruột thịt. Trong thời gian này ra đời nhiều phong trào như: “Vườn cây chống Mỹ , làm phân xanh chống Mỹ, làm thuỷ lợi chống Mỹ, đọc và làm theo “Từ tuyến đầu Tổ quốc”… Tháng 11/1963 đoàn đại biểu tỉnh Sóc Trăng ra thăm Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà càng làm cho tinh thần vì miền Nam, vì Sóc Trăng ngấm vào máu thịt của mọi người.
Đoàn thanh niên lao động có sự trưởng thành rõ rệt, là lực lượng trẻ, khoẻ, nhiệt tình, được giáo dục rèn luyện. Tư tưởng hành động của đoàn viên và thanh niên là “Hăng hái tiến lên hàng đầu, tranh thủ cống hiến thật nhiều cho CNXH và đấu tranh thống nhất Tổ quốc” “Mỗi người làm việc bằng 2 ra sức xây dựng và bảo vệ miền Bắc, hết lòng ủng hộ đồng bào miền Nam” và hoà nhập với phong trào trên toàn miền Bắc: “Thi đua trở thành người lao động tiên tiến” (1960), “Những người tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất” (1961-1965)(**). Đoàn thanh niên hăng hái làm thuỷ lợi, làm phân, cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh sản xuất, củng cố, xây dựng phong trào HTX, gương mẫu chấp hành các chính sách, tích cực rèn luyện quân sự, học tập chính trị bảo vệ trật tự trị an, tình nguyện đi khám sức khoẻ, sẵn sàng lên đường bảo vệ Tổ quốc. Số đoàn viên có trình độ văn hóa, có tín nhiệm và khả năng công tác trong các hợp tác xã được giao đảm nhiệm các công việc quan trọng: 157 cán bộ đoàn trong Ban quản trị HTX, 139 đoàn viên trong ban kiểm soát, 69 đoàn viên trong ban kế hoạch, 318 đoàn viên làm đội trưởng, đội phó sản xuất, 413 đoàn viên làm thư ký đội.
Năm 1964 trên mặt trận thuỷ lợi, cải tạo đất bạc mầu đã có 117 đoàn viên thanh niên đạt danh hiệu “Kiện tướng” thuỷ lợi, 196 kiện tướng làm phân… Đâu đâu cũng dấy lên phong trào “Làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm”, “Chiến sỹ Điện Biên, dũng sỹ Ấp Bắc” và “Tranh thủ trời nắng, chiến thắng trời mưa, đi sớm về trưa, hoàn thành nhiệm vụ ” hoặc “1 công không tài, 2 công chưa giỏi, hăng hái phấn khởi ngày đạt 3 công”… Nhiều đội chuyên do đoàn thanh niên đảm nhiệm : 97 tổ làm phân cải tiến, 240 đội thuỷ lợi, 82 đội khoa học kỹ thuật…
Trong chăn nuôi, đoàn viên thanh niên còn nhận chăm sóc trâu bò gầy, yếu, bê nghé, không lấy công điểm. Thực hiện khẩu hiệu “Tấc đất, tấc vàng”, “Biến đồi hoang thành nương khoai sắn” đoàn đã khai phá được 1.020 mẫu ruộng rậm, đồi trọc, thùng đấu… đưa vào canh tác. Hưởng ứng lời dạy của Bác Hồ “Tết trồng cây”, nhất là lời dạy của Bác trong dịp về thăm tỉnh ta (6/4/1961 và 17/10/1963), đoàn đã có phong trào “Đường cây Sóc Trăng, Vườn cây chống Mỹ, Đồi cây thống nhất”. Đoàn thanh niên Hiệp Hoà đã trồng được 997.098 cây các loại, nhận chăm sóc bảo quản 14 khu đồi cây, 8 sào ươm cây giống, 21 km đường cây của xã, HTX…
Trong phong trào thi đua xây dựng lực lượng quốc phòng an ninh, 100% đoàn viên, 67 % thanh niên vào dân quân tự vệ. Hầu hết những nhiệm vụ khó khăn, đột xuất, những chiến dịch lớn đều do đoàn thanh niên đảm nhiệm. Do yêu cầu của đất nước, 620 đoàn viên thanh niên tình nguyện đi xây dựng kinh tế mới.
Báo cáo chính trị tại Đại hội huyện Đoàn lần thứ VI (từ ngày 12 đến 15/10/1964) khẳng định”… Chưa bao giờ lực lượng ĐVTN Hiệp Hoà mạnh mẽ như ngày nay… đoàn thanh niên lao động Hiệp Hoà xứng đáng là đội xung kích, lực lượng hậu bị và cánh tay phải của Đảng… Đoàn có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng…”
Công tác thiếu niên nhi đồng – các xã đều thành lập Uỷ ban Thiếu niên và Nhi đồng do huyện Đoàn trực tiếp quản lý, lãnh đạo . 15 xã thành lập Hội đồng phụ huynh Thiếu niên, học sinh. Đẩy mạnh phong trào toàn dân chăm sóc thiếu niên, nhi đồng . Tạo điều kiện cho các em “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ”, thực hiện : ” 5 điều Bác Hồ dạy trở thành cháu ngoan Bác Hồ”, “Thi đua 2 tốt”, “Em yêu anh giải phóng quân”, xây dựng “HTX măng non”, tổ chăm sóc trâu bò béo khoẻ… Trong các phong trào đó đã xuất hiện rất nhiều em nêu tấm gương tốt và đơn vị điển hình.
Hội liên hiệp phụ nữ, một lực lượng đông đảo giữ vai trò to lớn trong nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Phong trào thi đua “5 tốt” do Trung ương hội đề ra đã có nhiều cá nhân và phân chi hội thực hiện tốt. Trên các vị trí công tác, 3 đồng chí là Huyện uỷ viên. Ban chấp hành xã Đoàn Đức Thắng, Đông Lỗ có 6/11 đồng chí là nữ. Hơn 1900 lượt chị em tham gia HĐND huyện, xã, ban quản trị HTX, cán bộ đội sản xuất, các ban ngành. 860 chị em được kết nạp vào Đoàn thanh niên, 76 chị em được kết nạp vào Đảng. Điển hình nhất là xã Mai Trung, Hội phụ nữ đã có những đóng góp rất to lớn, đưa phong trào làm phân xanh, thuỷ lợi, cải tạo đất bạc mầu, xây dựng HTX… trở thành điểm sáng toàn miền Bắc…
Từ ngày hoà bình lập lại qua 10 năm xây dựng, nhân dân Hiệp Hoà đã vượt qua khó khăn, ra sức hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, cải tạo quan hệ sản xuất và xây dựng CNXH, đấu tranh ủng hộ đồng bào miền Nam. Thông qua các chiến dịch, các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà đã phấn đấu hoàn thành những nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao cho. Bước vào thời kỳ cách mạng mới đầy thử thách ác liệt, Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà phát huy truyền thống yêu nước, yêu CNXH, tin tưởng tuyệt đối vào con đường mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã vạch ra – Tiếp tục thể hiện sức mạnh và khí thế vươn lên của mình trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
BBT Kỳ sau đăng tiếp chương II :HIỆP HOÀ TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ QUÊ HƯƠNG, GÓP PHẦN CHI VIỆN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THỐNG NHẤT TỔ QUỐC (1965-1975)





Bình luận về bài viết này