Đã lâu lắm rồi, nay tôi mới có dịp trở lại mảnh đất Hà Giang- nơi mà ba mươi hai năm trước đây từng là một chiến trường ác liệt. Nơi ghi dấu biết bao những kỷ niệm sâu sắc của tôi trong đời quân ngũ. Đêm trước ngày lên đường, lòng tôi bồi hồi xao xuyến.
Vượt qua gần hai trăm km của Quốc lộ 2,tôi đặt chân tới thành phố Hà Giang vào cuối buổi chiều, khi ánh hoàng hôn đã khuất dần về phía Tây Côn Lĩnh. Thành phố nơi đây đổi thay nhiều quá so với cái thời chúng tôi còn đóng quân ở đó. Nhà cao tầng mọc lên san sát bên nhau. Giữa trung tâm Thành phố ,cầu Yên Biên mới được xây thêm, nối liền hai bờ dòng Lô giang thơ mộng. Sân bóng trước kia nay trở thành quảng trường trung tâm hội nghị của tỉnh. Trước những bồn hoa là tượng đài hoành tráng trang nghiêm với lá quốc kỳ tung bay trong gió … Ngay phía đối diện với quảng trường, phía đầu công viên đặt chiếc màn hình ti vi rất to đang phát trương trình thời sự của tỉnh Hà Giang.Tôi cảm nhận thấy nơi đây vẫn luôn là mảnh đất ấm áp và chan chứa tình người. Khi thành phố lên đèn, tôi có cảm giác như đang đi lạc vào giữa một rừng hoa khổng lồ lung linh đầy sắc màu rực rỡ. Nơi tôi tìm đến đầu tiên là nhà Mẹ Mùi ( nhưng nay mẹ đã mất ). Nhà mẹ trước kia ở cách đầu cầu Yên Biên khoảng 300m. Mẹ là “Mẹ của bộ đội,” cái tên mà anh em chiến sỹ chúng tôi đặt cho mẹ rất gần gũi và thân thương. Bởi mỗi khi anh em lính chúng tôi từ trên chốt xuống hay từ Hà Giang ngược lên Biên giới mẹ rất ân cần, quan tâm , từ tấm áo, cái khăn, rồi ấm chè bao thuốc… Sau này, lúc chiến sự xảy ra ác liệt, những chuyến xe đưa các liệt sỹ từ trên biên giới về đêm đêm mẹ lại ra tắm rửa và khâm liệm cho từng người một. Chuyện kể về mẹ thật dài. Và chuyện nào cũng thật là xúc động. Thắp cho Mẹ nén hương, sáng hôm sau tôi tranh thủ ngược lên Thanh Thủy. Đường lên cửa khẩu hôm nay là con đường nhựa mịn màng, chứ không như những năm tháng còn chiến tranh. Tôi nhớ, hồi đó qua khỏi dốc Mã Tim là ô tô phải tắt hết đèn đi mò mẫm trong đêm. Mặt đường đã xấu lại thêm hố pháo cày xới tung tóe làm cho ta có cảm giác xe như bò trên lòng một con suối cạn vậy. Còn bây giờ,từ bên dưới Bản Tha kéo dài tới đầu cầu con suối Sửu,lối đường rẽ vào thủy điện 304 ngày trước là những thửa ruộng bậc thang, cả một cánh đồng xanh ngút ngàn lúa đang kỳ con gái. Men theo sườn 246 vẫn là các vách đá và hang nhỏ mà có đợt chúng tôi ở đó đã trải qua những trận mưa pháo kích của địch đủ các loại từ H12, cối 160mm, pháo khoan , pháo chụp… bắn ngay trước mặt vào sát trận địa pháo 122mm của lữ M68. Rồi tôi ngược lên “Làng Pinh”, km15 . Ngay lối rẽ vào làng, bây giờ được xây một chiếc cổng to với tấm biển ghi dòng chữ: “LÀNG VĂN HÓA DU LỊCH cộNG ĐỒNG THÔN THANH SƠN”. Đầu làng những ngôi nhà sàn kiểu mới được xây dựng lên sát ven đường và sau đó là những thửa ruộng lúa, nương ngô trông rất là đẹp mắt . “Làng Pinh”- địa danh này đã gắn liền với những người lính Sư đoàn 356 chúng tôi. Bởi từ những ngày đầu, khi đơn vị chuyển từ Hoàng Liên Sơn sang đã đóng quân ở đây. Khi ấy bản làng vắng vẻ, tan hoang không còn bóng một người dân nào. Cả làng đã rời đi sơ tán hết. Hàng ngày chúng tôi mang cuốc xẻng đi mở con đường chiến lược, để kéo pháo lên 812 ( Thôn Cóc Nghè ). Khi ấy đúng vào mùa mưa, có nhiều đêm những trận mưa rừng như đổ nước xuống các mái lán đơn sơ của đơn vị. Nhưng đến sáng, trời tạnh là anh em lại tiếp tục công việc đào đất, sả ta luy, san mặt bằng cho con đường nhanh chóng được thông tuyến. Cả ngày lao động vất vả, nặng nhọc , tối về cơm ăn toàn rau rừng nấu thịt hộp với củ chuối vậy mà anh em vẫn cứ lạc quan, yêu đời. Vào hồi cuối năm 1984 đơn vị chúng tôi lại có mặt tại ‘’ Làng Pinh” để làm nhiệm vụ vận tải lên tuyến trên. Phải nói rằng nơi đây là một hậu cứ cực kỳ vững chắc. Bản làng được che khuất sau dãy núi đá nằm chắn ngang về hướng bắc nên mọi tầm pháo kích của địch đều vượt qua. Ngay đến cả cối 120mm – 160mm cũng khó có thể rơi lọt được vào vị trí này. Đơn vị chúng tôi trú quân ngay sát một lèn đá . Cả đại đội hơn sáu mươi người mà mới chỉ chiếm một góc nhỏ ở đó. Ban ngày rỗi rãi anh em rủ nhau vào bản bỏ, bờ khe suối hái rau rừng về cải thiện. Ngày đầu còn có để mà hái, sau vài tháng những bờ ruộng, bờ suối tìm mỏi mắt mới được vài ngọn nhỏ. Ngày nào cũng vậy cứ tầm 17h30 toàn bộ anh em ra kho Tiểu đoàn bộ nhận gạo sấy, lương khô, thịt hộp, lựu đạn, đạn cối, đkz, b40 – 41 các loại để đưa lên Cọc Sáu và hang Làng Lò . Xong lại nhận thương binh và tử sỹ từ tuyến trên đưa về tập kết. Nơi đó bây giờ đã được xây một cây hương nho nhỏ, để tưởng nhớ và hương nhang cho những đồng đội đã anh dũng hy sinh trên tuyến trước. Hai dãy nhà xây liền nhau và một dãy khác cách trên 100m là trạm phẫu quân y tiền phương nay đã không còn mái, tường mốc, rêu xanh. Bây giờ, sau hơn ba mươi năm, tất cả vẫn còn đó và trở thành dấu tích của cuộc chiến đã qua.
Sau những giờ phút bâng khuâng đứng ở nơi này,tôi rời Làng Pinh ngược lên Thanh Thủy rồi qua ngã ba “cửa tử” . Có lẽ, những người dân đang sinh sống và buôn bán ở nơi cửa khẩu sầm uất này khó có thể hình dung được khung cảnh của nơi đây hơn ba mươi năm về trước. Ngày đó, khi phải qua ngã ba này là anh em chúng tôi tâm niệm rằng phải vượt qua “ cửa tử”. Bởi hàng đêm H12 , pháo 37 mm hạ chúc nòng luôn nhả đạn vào giữa ngã ba đôc đạo đó. Mục đích của chúng là chặn đường chi viện vận chuyển của ta lên tuyến trước. Sauk hi rời ngã ba “ cửa tử”, tôi vào hang Dơi ,qua sân của Đoàn kinh tế 313 rồi đi theo cầu treo sang suối Thanh Thủy . Chỗ đó trước kia cũng là căn cứ địa vững chắc của Sư 313. Nơi đây, nhà phẫu tiền phương, hang phẫu, kho chứa hàng còn nguyên vẹn chỉ khác xưa là tường nhà đã rêu phong nứt nẻ bởi sự tàn phá của của thời gian. Vào hang Làng Lò, cửa hang mới bị sập phía ngoài ( có lẽ do bị ảnh hưởng của đạn cối thời gian trước đây bị om lâu ngày đến nay không còn giữ lại được) nhưng bên trong lòng hang vẫn rộng mênh mông như xưa. Cả sư đoàn 356 trước đây cũng từng có thời gian dài tập kết ở trong đó. Nhiệm vụ chính của chúng tôi hồi ấy là thường xuyên thay nhau lên bám trụ, chiếm giữ cao điểm 685 và thay phiên nhau vận chuyển đạn dược, lương thực tiếp tế lên E2, E3, E5 và bốn hầm 685. Trên nóc hang Làng Lò là một yên ngựa dài khoảng gần 300m dẫn đến hang Mán nhìn ngang sang đồi 400 . Hồi đó địch thường xuyên bắn tỉa sang yên ngựa, chặn đường chi viện của ta. Đã không ít lần, tôi cùng nhiều đồng đội đã nằm trong dấu thập ống kính súng bắn tỉa của địch. Còn lại đợt phòng ngự trên 685 thì thực sự gian khổ và vất vả ngày cũng như đêm chỉ chợp mắt tranh thủ. Pháo của địch bất cứ lúc nào cũng có thể dội vào những mỏm ta chiếm giữ. Chúng không tiêu diệt nổi bằng sức công phá của quả đạn nhưng sức ép tiếng nổ cũng làm đinh tai nhức óc bộ đội ta nhiều ngày. Lâu dần đá cũng vỡ lở, tả tơi và đã thành tên gọi là Lò vôi thế kỷ từ đó. Ở trên đấy quả là phải thực sự kiên cường, dũng cảm. Cách ăn nằm cũng rất nhiều tư thế. Ngồi thì được nhưng đứng thì phải khom lưng vì chỗ ta chiếm giữ, bám trụ không phải là hang sâu mà chỉ là những hốc đá nho nhỏ chỉ chứa được hai ba người. Cả chục ngày trời không đánh răng rửa mặt. Nước tiết kiệm từng giọt, giành để uống. Ăn thì toàn gạo sấy với lương khô và đợi ngày thay phiên khác. Hôm nay, đứng ở nơi này, nhìn về phía ấy, những kỷ niệm đó như vẫn còn nguyên trong ký ức của tôi.

CCB F356 Nguyễn Minh Sơn- Tác giả bài viết tại Đền tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ Vị Xuyên. ( ảnh trên Face Nguyễn Minh Sơn )

( ảnh đầu trang: Đền tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ Vị Xuyên )

Rời hang Làng Lò, tôi vượt lên Nậm Ngặt . Con đường nhỏ, đoạn trải nhựa đoạn đổ bê tông dốc ngược, quanh co đưa tôi lên 468. Trước kia, nơi đây chính là Sở chỉ huy tiền phương của chiến dịch MB84. Đó là vị trí đối diện, rất dễ quan sát cao điểm 685 . Nơi này vẫn còn lại nhiều căn hầm, đường hào đã trở thành di tích. Những dấu tích đó có thể nói là vô giá bởi nó đã gắn liền với những người lính đã từng có những năm tháng chiến đấu gian khổ, ác liệt không thể nào quên ở nơi này. Bây giờ, tại chính giữa cao điểm 468 ,một ngôi đền tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ Vị Xuyên đã được xây nên. Tầm vóc của ngôi đền tuy chưa phải là uy nghi hoành tráng nhưng cũng đủ làm ấm lòng đồng đội và nhân dân. Ngôi đền nhìn thẳng về phía cao điểm 1509.Lối lên gần 50 bậc đá. Trước sân đặt một chiếc bàn , lư hương và hai cột đèn. Tất cả đều bằng đá. Cột cờ Tổ Quốc uy nghiêm, trang trọng ở nơi chính giữa. Nhìn lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong gió chiều mà lòng tôi xốn xang nhiều xúc cảm. Bên trong ngôi đền là ba ban thờ chính. Nổi bật ở đó là sự tôn kính, trang nghiêm được thể hiện trên ban thờ Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Đại Tướng Võ Nguyên Giáp.
Đêm đầu tiên tôi ở trên cao điểm 468 giữa không gian bốn bề tĩnh lặng, mây núi phủ đầy. Trong bâng khuâng, tôi như thấy những kí ức những hình ảnh cách đây hơn ba mươi năm trước ùa về như những thước phim quay chầm chậm. Tôi nhớ bao đêm ngày phòng ngự trên cao điểm.Tay ôm súng thép, mắt nhìn đăm đăm trên chiến lũy hào sâu. Tôi nhớ những đêm mưa phùn, lặng lẽ đoàn quân âm thầm luồn lách, ém quân trên rừng vầu Nậm Ngặt chờ giờ khai hỏa. Nhớ cái bắt tay thật chặt trước lúc lên đường. Nhớ những gương mặt đồng đội thân yêu, sạm đen khói đạn. Nhớ mùi mồ hôi oi nồng và những câu chuyện tào lao giữa hai trận đánh. Nhớ lắm ! Đồng đội ơi !
Hôm nay, tôi về đây. Bản Nậm Ngặt bây giờ đã hồi sinh trở lại. Làng bản yên bình. Lúa đã ngả vàng trên những thửa ruộng bậc thang. Rừng xanh ngút ngàn như phủ kín mọi dấu tích tang thương của một thời đạn lửa. Và có những ai còn nhớ bao đồng đội của tôi vẫn nằm lại bên vách đá , sườn đồi , khe suối ở nơi này. Tôi như thấy các anh trong sắc vàng của lúa, sắc xanh của rừng và trong cả sắc cờ đỏ thắm đang phần phật bay trên đỉnh non cao.

Nậm Ngặt, tháng 10-2016

NGUYỄN MINH SƠN

CCB Sư đoàn 356

Bình luận về bài viết này

Thịnh hành