(Kể lại theo lời của cựu chiến binh Doãn Đình Chiêu)
Tháng mười hai về, mang theo cái lạnh se sắt của đất trời và những khoảng lặng rất riêng trong lòng người. Giữa những ngày cuối năm này, có một ngày đặc biệt để mỗi chúng ta nhớ về người lính, về Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng với niềm tự hào và biết ơn sâu sắc, đó là ngày 22/12. Đây cũng là dịp để ta nhìn lại và càng thêm trân trọng những hy sinh thầm lặng của tuổi thanh xuân đã gửi lại nơi chiến trường, để đất nước có được hòa bình hôm nay. Ở mỗi làng quê, mỗi dòng họ, đều có những câu chuyện xúc động về người lính trong các cuộc kháng chiến của dân tộc, được truyền lại cho thế hệ sau. Và ở làng Đại Duy, xã Đoàn Đào, tỉnh Hưng Yên, gia đình họ Doãn cũng lưu giữ một phần ký ức không thể nào quên về những người lính đã hơn 40 năm về trước.

Cổng làng Đại Duy
May mắn trở về sau cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, anh Doãn Đình Chiêu – cựu chiến binh thôn Đại Duy vẫn mang trong mình di chứng của chiến tranh. Cùng với đó là bao ký ức không phai mờ về đồng đội, trong đó có hai người anh em con chú con bác đã anh dũng hy sinh, góp phần bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.
Về làm dâu gia đình họ Doãn đến nay đã hơn 30 năm, tôi nhiều lần được nghe anh kể về những năm tháng chiến đấu gian khổ nơi chiến trường ác liệt bằng trí nhớ rất minh mẫn, đặc biệt là sự hy sinh của hai liệt sĩ Đoãn Đình Hoa và Doãn Đình Vàng. Cả ba anh em trong gia đình họ Doãn cùng khoác ba lô lên đường nhập ngũ một ngày nhưng chỉ mình anh trở về. Mỗi lần nhìn hai bức ảnh, hai gương mặt còn quá trẻ của hai liệt sĩ, được đặt trang trọng trên ban thờ, bên cạnh tấm bằng “Tổ quốc ghi công” và những dòng chữ khắc trên bia mộ đã mờ theo năm tháng ở nghĩa trang liệt sĩ xã nhà, trong tôi lại trào dâng một nỗi thương tiếc nghẹn ngào. Dù chưa từng một lần được gặp mặt, nhưng qua lời kể của anh chồng, người cùng một đơn vị, cùng vào sinh ra tử trên chiến trường khốc liệt, tôi đã cảm nhận được sự hy sinh vô cùng anh dũng của những người lính năm xưa. Họ đã ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, để lại phía sau là gia đình, quê hương và cả những ước mơ còn dang dở của tuổi hai mươi.
Có điều gì đó thôi thúc khiến tôi muốn được kể lại câu chuyện về những người lính họ Doãn. Không chỉ để tưởng nhớ, mà còn để con cháu sau này biết rằng, trong gia tộc mình đã có những con người anh dũng như thế trong những năm tháng chiến tranh biên giới khốc liệt, để bảo vệ từng tấc đất quê hương, góp phần mang lại sự bình yên cho cuộc sống hôm nay.

Cựu chiến binh Doãn Đình Chiêu
Tiếng gọi nơi biên giới, thanh niên sẵn sàng lên đường
Sau chiến thắng 30/4/1975, miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, non sông thu về một mối. Ai cũng tưởng rằng chiến tranh đã thật sự khép lại, những năm tháng gian khổ đã lùi xa, và hòa bình, độc lập, tự do đã thực sự đến với người dân. Thế nhưng, niềm vui chưa trọn vẹn thì Tổ quốc lại phải đối mặt với những thử thách mới: chiến tranh biên giới Tây Nam bùng nổ năm 1978, rồi tiếp đó, tiếng súng lại vang lên ở biên giới phía Bắc từ tháng 2 năm 1979. Với những âm mưu và kế hoạch đã được vạch ra từ trước của giới cầm quyền Trung Quốc, quân và dân ta không có con đường nào khác là đứng lên thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình để đánh trả, bảo vệ lãnh thổ và giữ gìn nền hòa bình mà ông cha phải đánh đổi bằng bao máu xương mới giành được.
Nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, thanh niên trai tráng từ khắp mọi miền quê đã hăng hái lên đường tòng quân. Họ ra đi với tinh thần và nhiệt huyết của tuổi trẻ, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ từng tấc đất quê hương. Có người vừa rời ghế nhà trường, có người vừa xây dựng gia đình được vài tháng, có người mới có bạn gái, người còn chưa có, người thì cha mẹ già yếu… Tất cả cùng chung một ý chí: bảo vệ đất nước, mang lại cuộc sống bình yên cho nhân dân. Với tinh thần đó, cả ba anh em con chú con bác trong gia đình họ Doãn là Doãn Đình Chiêu (sinh năm 1956), Doãn Đình Hoa (1960), Doãn Đình Vàng (1959) đã tình nguyện lên đường nhập ngũ cùng một ngày 02/5/1978. Hành trang mang theo của họ chỉ vỏn vẹn có bộ quần áo để thay đổi. Địa điểm tập trung ở ủy ban xã Đoàn Đào. Cả ba anh em cùng đi bộ trong sự lưu luyến bịn rịn tiễn đưa của những người thân và xóm giềng. Các bà mẹ nắm chặt tay con, mặc dù cố tỏ ra cứng rắn nhưng giọt nước mắt vẫn lăn dài trên những gương mặt lam lũ vất vả, phải lấy vạt áo lau vội. Lòng mẹ như thắt lại, chỉ mong con được bình an trở về. Còn người vợ trẻ đi bên cạnh, đôi mắt đỏ hoe, nghẹn ngào chẳng nói nên lời. Chiếc khăn mùi soa trong tay cứ liên tục chấm nước mắt. Trong phút chia tay ngắn ngủi, chẳng ai nói được gì, chỉ có những ánh nhìn gửi gắm bao lời dặn dò, yêu thương, mong đợi.
Sau khi tập trung ở ủy ban xã, các anh tiếp tục tự đi bộ hoặc có người nhà đèo bằng xe đạp vào Ché – điểm tập kết của huyện Tiên Lữ (cũ) để chuẩn bị lên đường ra biên giới. Nắng tháng năm vàng rực, chói chang trên những cánh đồng đang vào mùa gặt. Hương lúa mới thơm nồng, theo làn gió lan tỏa khắp không gian. Giây phút chia tay, người thân, bạn bè, đứng xung quanh để tiễn các tân binh. Ai cũng chỉ biết dặn dò và chúc các anh lên đường mạnh khoẻ được may mắn, bình an và sớm trở về với gia đình. Những gương mặt trai trẻ mang nhiều sắc thái khác nhau: có người gượng cười để mẹ cha yên lòng; có người cúi xuống giấu đi giọt nước mắt còn đọng nơi khóe mi khi nghĩ đến người yêu, người vợ nơi quê nhà; có người lặng lẽ nghĩ về cha mẹ già yếu, vẫn ngày ngày gồng gánh công việc nặng nhọc vất vả, không ai đỡ đần. Tuy mỗi người một hoàn cảnh, một nỗi niềm riêng nhưng ai cũng đều cố gắng vượt qua để hoàn thành thành nhiệm vụ cao cả thiêng liêng của người lính.
Vào Ché làm Lễ giao quân trong không khí trang trọng, thiêng liêng, những tân binh chính thức được cấp phát quân tư trang và ở lại thêm một hai ngày để chờ tập hợp đủ quân số của các xã trước khi lên đường. Đây là khoảng thời gian các anh phải xa gia đình, người thân, để chuẩn bị bước vào một môi trường huấn luyện và thử thách mới. Với tinh thần vững vàng và ý chí quyết tâm , ai nấy đều sẵn sàng chuẩn bị lên đường với niềm tự hào khi được khoác trên mình màu xanh áo lính, góp sức trẻ để bảo vệ Tổ quốc.
Khi xe bắt đầu chuyển bánh, hàng loạt những cánh tay vẫy chào, gửi gắm bao tình cảm nhớ thương cùng những lời động viên chân thành. Những chàng trai trẻ ra đi mang theo hương lúa đồng quê, mang theo lời dặn dò của mẹ cha, của người vợ tảo tần sớm hôm chờ đợi, cùng lời hẹn ước của mối tình đầu. Tất cả trở thành một hành trang tinh thần, tiếp sức cho các anh bước vào chặng đường mới, nơi biên cương của Tổ quốc đang đón chờ. Nắng đã lên cao, mọi người lặng lẽ trở về với công việc thường ngày, mà trong lòng không nguôi nhớ về hình bóng con em mình đang dần xa khuất.
Những chiếc xe đặc chủng của quân đội chở đầy tân binh, vượt qua con đường dài hun hút, quanh co giữa đồi núi trập trùng, hai bên là cây rừng bạt ngàn, đưa các anh ra đến Quảng Ninh. Đơn vị đóng quân tại thôn Chạp Khê, xã Lam Khê, thị trấn Uông Bí. Tại đây, các anh trải qua ba tháng huấn luyện đầu tiên, làm quen với nề nếp sinh hoạt và kỷ luật của người lính. Kết thúc thời gian huấn luyện cơ bản ban đầu, đại đội tiếp tục di chuyển đến xã Dực Yên, huyện Quảng Hà (cũ), thuộc tỉnh Quảng Ninh – vùng Đông Bắc của Tổ quốc. Ở đây, các anh bước vào những tháng ngày rèn luyện gian khổ về tinh thần và thể lực, những bữa cơm đạm bạc và điều kiện sống khắc nghiệt nơi rừng núi. Nhưng chính những gian khổ ấy đã tôi luyện ý chí, hun đúc lòng dũng cảm và tinh thần quyết tâm, giúp những người lính trẻ sẵn sàng đối mặt với mọi gian nan thử thách trên chặng đường phía trước.
Cao Ba Lanh – nơi tuyến đầu máu lửa, bao người không trở về
Cả ba anh em con chú con bác Doãn Đình Chiêu, Doãn Đình Hoa, Doãn Đình Vàng, lúc đầu cùng một Đại đội 2 (C2), thuộc Tiểu đoàn 7 (D7), Trung đoàn 288 (E288), thuộc Sư đoàn 395 (F395) – đơn vị trực thuộc Đặc khu Quảng Ninh. Sau, đơn vị thành lập thêm một Đại đội nữa là C4, và anh Doãn Đình Chiêu được chuyển sang đại đội mới – Đại đội Hỏa lực (C4), đóng ở thôn Đông, xã Dực Yên. Còn hai anh em Doãn Đình Hoa và Doãn Đình Vàng vẫn ở Đại đội Bộ binh (C2) đóng tại thôn Tây, cùng xã Dực Yên. Đầu xuân năm 1979, cả bốn Đại đội (C1 -> C4) nhận nhiệm vụ sửa đường lên biên giới, một công việc vô cùng gian nan vất vả và cần nhiều nhân lực. Công việc phải hoàn thành gấp là phát quang các loại cây rừng um tùm rậm rạp, bạt đá, san phẳng, làm nhẵn lối đi để tạo thành con đường. Con đường ấy dẫn lên tận cao điểm tuyến đầu Cao Ba Lanh, thuộc xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh – nơi biên giới phía Đông Bắc của Tổ quốc. Đây là một dãy núi lớn, trập trùng và hiểm trở. Trên núi lại có nhiều quả đồi nối tiếp nhau, cao thấp tựa những chiếc bát úp khổng lồ. Có đồi cao tới 1.113 mét, đồi khác khoảng 1.050 mét so với mực nước biển. Đứng trên đỉnh Cao Ba Lanh, phóng tầm mắt sang bên kia chân núi là lãnh thổ Trung Quốc – nơi chỉ cách ta một con suối nhỏ, đôi khi còn nghe tiếng người gọi nhau bên kia biên giới.
Đầu năm 1979, Cao Ba Lanh trở thành tuyến đầu nóng bỏng trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc. Cácđại đội của ta được lệnh đóng chốt giữ những vị trí trọng yếu. Trên các cao điểm, bộ đội đào giao thông hào, công sự, khoét đá, làm hầm trú ẩn giữa mưa gió và sương lạnh. Thời tiết mùa xuân nơi biên giới thật khắc nghiệt: mây mù giăng kín lối, gió núi hun hút thổi qua những triền đồi, hơi sương buốt giá len lỏi, thấm sâu vào da thịt lạnh buốt. Cả núi rừng chìm trong màn sương trắng đục, mờ ảo; có lúc, đứng cách nhau chỉ vài bước chân cũng khó nhận rõ mặt người.Thế nhưng, trong cái giá lạnh và mưa phùn triền miên suốt ngày đêm, những người lính vẫn kiên cường bám chốt, thay nhau đào công sự, mở đường, củng cố trận địa trên đỉnh núi cao. Họ đã hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao và luôn sẵn sàng cho cuộc chiến có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Sáng ngày mồng 4 tháng 2 năm 1979, quân địch từ bên kia biên giới ồ ạt tràn sang tấn công và chiếm điểm chốt của ta tại Cao Ba Lanh. Với lực lượng đông đảo, lại được pháo binh yểm trợ, địch đã triển khai các đợt đánh phá liên tiếp, dồn dập và vô cùng ác liệt. Cùng lúc đó, từ sườn núi bên kia lãnh thổ Trung Quốc, pháo liên tục bắnvào các chốt của ta trên cao điểm 1.113 mét. Đạn pháo nổ vang trời, sáng lóe giữa màn sương mù dày đặc.
Bốn đại đội của ta, từ C1 đến C4 được phân công giữ từng chốt chặn khác nhau, kiên cường bám trụ, không rời vị trí, quyết không lùi bước trước sự tấn công dữ dội của địch.Trên cao điểm, tiếng pháo nổ như sấm, tiếng rít u u của đạn bay, oành oành đạn tiếp đất, tiếng súng liên hồi, hòa cùng âm thanh của tiếng đất đá nổ tung, làm rung chuyển cả núi rừng Cao Ba Lanh. Nhiều chiến sĩ của ta dính đạn đã ngã xuống, nhiều người khác bị thương giữa đạn pháo tàn khốc của kẻ thù. Thấy đồng đội bị thương, máu chảy nhiều, trong lòng không khỏi xót thương và lo lắng, chiến sĩ Doãn Đình Vàng thuộc C2 (Đại đội 2), không một phút do dự, đã bò nhoài lên giữa làn đạn, tìm cách tiếp cận để yểm trợ và cứu đồng đội. Pháo địch từ các hướng vẫn không ngừng trút xuống, cày nát đất đá, nhưng anh vẫn kiên trì nhích từng chút một, chỉ mong kéo người đồng đội ra khỏi vùng nguy hiểm. Khi anh vừa chạm tay tới bạn thì một loạt đạn của địch bất ngờ đã dội thẳng vào vị trí ấy. Một tiếng nổ long trời lở đất như xé toạc cả núi rừng, xé toang lòng người, cả hai người đã anh dũng hy sinh vào sáng mồng 5 tháng 2 năm 1979 giữa trận địa rực lửa Cao Ba Lanh, nơi thấm máu đào của những người con kiên trung để giữ từng tấc đất quê hương. Anh Doãn Đình Vàng – người chiến sĩ trẻ dũng cảm và kiên cường, trọn vẹn nghĩa tình đồng đội, đã ngã xuống giữa mùa xuân biên giới, khi tuổi đời vừa tròn hai mươi. Sự hy sinh của anh là biểu tượng sáng ngời cho tình đồng chí, đồng đội và tinh thần “vì nước quên thân, vì đồng đội quên mình” của người lính Việt Nam, mãi khắc ghi trong lòng những người ở lại.

Liệt sĩ Doãn Đình Vàng
Bốn đại đội của ta, từ C1 đến C4, được phân công giữ từng chốt khác nhau, kiên cường bám trụ, không rời vị trí, bất chấp sự tấn công ác liệt của quân địch. Dù lực lượng chúng đông, trang bị hùng hậu, được bộ binh và pháo binh yểm trợ, quân ta vẫn kiên quyết phản công, giữ vững từng điểm chốt. Trên cao điểm, pháo nổ dồn dập như sấm sét, bộ đội ta kiên cường chiến đấu, quyết tâm giữ các vị trí trọng yếu, vừa đánh trả mạnh mẽ, quyết liệt, không kém gì kẻ thù. Tuy nhiên, sự ác liệt của trận chiến đã để lại những thương vong nặng nề cho cả hai bên.
Sự hy sinh anh dũng của liệt sĩ Doãn Đình Vàng cùng nhiều đồng đội khác đã khiến cả đơn vị, đặc biệt là hai người anh em con chú con bác Doãn Đình Chiêu và Doãn Đình Hoa vô cùng xót xa và phẫn uất. Nỗi đau thương mất mát ấy đã biến thành sức mạnh, tiếp thêm ý chí để cả đại đội quyết tâm giành lại chốt trên cao điểm 1.050 mét – vị trí chiến lược mà địch đang ra sức chiếm giữ. Cuộc chiến giằng co giữa ta và địch vô cùng ác liệt, mỗi tấc đất đều phải trả giá bằng máu của người lính. Ta kiên quyết giữ, chúng quyết tâm chiếm. Đạn pháo của cả hai bên vẫn không ngừng trút xuống, đất đá bắn tung, khói lửa mịt mù. Trong trận đánh quyết tử ấy, anh Doãn Đình Hoa – người chiến sĩ trẻ gan dạ dũng cảm giữa làn mưa đạn, đã cùng đồng đội bắn trả quyết liệt các đợt tấn công của địch. Đến ngày 8 tháng 2 năm 1979, trong khi vẫn kiên quyết giữ vững vị trí chiến đấu, anh đã dũng cảm hy sinh khi tuổi đời mới tròn mười chín.
Sau khi các anh hy sinh, đơn vị đã đã tìm mọi cách đưa thi thể các liệt sĩ về hậu cứ, làm công tác tử sĩ và tổ chức mai táng chu đáo để các anh được yên nghỉ tại nghĩa trang Đường Hoa – Hà Cối. Người mất cũng đã mất, cả đại đội nén đau thương, tiếp tục chiến đấu để giữ gìn từng tấc đất biên cương của Tổ quốc cho đến khi tiếng súng đã tạm ngưng. Đơn vị tiếp tục củng cố lại hầm hào, trận địa, dựng những căn nhà bán âm bán dương làm nơi ở và sinh hoạt cho bộ đội, tiếp tục bám trụ nơi tuyến đầu. Trước sự chiến đấu ngoan cường của quân dân ta, cùng với sự phản đối mạnh mẽ từ dư luận trong nước và thế giới, quân bành trướng Trung Quốc buộc phải rút quân khỏi lãnh thổ Việt Nam vào ngày 16 tháng 3 năm 1979. Dù quân xâm lược đã rút đi nhưng các chiến sĩ vẫn ngày đêm bám trụ, không một giây phút chủ quan lơ là, để canh giữ dải đất biên cương, gìn vững sự bình yên cho quê hương đất nước.
Sự hy sinh của anh Hoa, anh Vàng, cùng nhiều đồng đội khác giữa tuyến lửa Cao Ba Lanh đã trở thành biểu tượng sáng ngời của lòng quả cảm, tình đồng chí đồng đội và tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Hình ảnh những người chiến sĩ ngã xuống mãi khắc sâu trong tâm trí của những người còn lại, trở thành động lực để họ tiếp tục chiến đấu, bảo vệ đất nước đến hơi thở cuối cùng.

Liệt sĩ Doãn Đình Hoa
Những ký ức không thể phai mờ của người cựu binh khi trở về quê hương
Với anh Doãn Đình Chiêu, những tháng ngày còn lại nơi biên giới Cao Ba Lanh cho đến lúc ra quân đã trở thành ký ức không thể nào quên. Đó là những trận đánh khốc liệt giữa hai bên với sự hy sinh mất mát cũng rất nhiều. Có đại đội chỉ còn lại ít người may mắn trở về. Đó còn là những tháng ngày sống ở núi rừng biên giới trong điều kiện vô cùng gian khổ thiểu thốn. Bữa ăn đạm bạc thiếu chất, cơm không đủ no, phải kiếm măng rừng làm rau. Có được vài gói mì tôm thì nấu cả nồi nước đầy, chia nhau chan húp xì xụp. Nước uống cũng rất khan hiếm, phải đi xuống tận khe suối mới có, thay nhau xách từng thùng, từng can nhựa lên vô cùng nhọc nhằn vất vả để nấu ăn. Mỗi lần đi tìm khe suối, các anh thường bị muỗi, vắt cắn, hút máu sưng đỏ cả chân tay. Nhiều người còn bị sốt xuất huyết. Những cơn sốt mê man bất tỉnh, người xanh xao vàng vọt thiếu sức sống.
Chỗ ở thì trong những căn nhà bán âm bán dương mà các chiến sĩ phải đào đất, bạt đá để dựng lên. Có khi đào hầm chữ A sâu xuống lòng đất, hai bên lấy gỗ gác lên để nằm. Cứ năm, sáu người lính ngủ chung một hầm. Đêm nào cũng thay nhau trực gác. Khổ nhất là mùa đông sương muối, sương mù dầy đặc, cái lạnh càng thêm tê buốt. Người lính, áo quần không đủ ấm, chăn không đủ đắp, lạnh run người. Trong những đêm rét cắt da cắt thịt ấy, lại nhớ đến câu thơ trong bài “Đồng chí” của Chính Hữu: “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ/ Đồng chí!”. Đúng là chỉ có tình đồng chí đồng đội, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, mới giúp các anh vượt qua được những năm tháng gian khổ tận cùng, nhất là khi danh giới giữa sự sống và cái chết chỉ mong manh trong gang tấc. Nhưng những người lính vẫn lạc quan, nụ cười vẫn nở trên đôi môi tím tái vì rét và thiếu thốn của các anh. Chỉ nghe kể lại đã thấy thương và cảm phục những người lính trong cuộc chiến biên giới năm xưa. Giữa nơi rừng núi heo hút, quanh năm sương muối giá rét, họ vẫn kiên gan bám trụ suốt nhiều năm trời, một sự bền bỉ mà có lẽ chỉ những ai từng đi qua chiến tranh mới thấu hiểu.
Cuộc sống của những người lính nơi rừng núi cứ thế trôi đi trong gian khổ thiếu thốn trăm bề. Dù quân xâm lược buộc phải rút quân trước sự phản đối mạnh mẽ của dư luận và sự thất bại nặng nề trong những cuộc tấn công ồ ạt dọc các tỉnh biên giới phía Bắc của ta, nhưng thực chất cuộc chiến vẫn dai dẳng kéo dài đến hàng chục năm (1979 – 1989). Đặc biệt, mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang – Tuyên Quang) diễn ra quyết liệt tháng 4/ 1984, trên toàn tuyến biên giới mãi đến năm 1989 mới kết thúc. Trong suốt thời gian đó, quân ta luôn nâng cao tinh thần cảnh giác, củng cố hầm hào, trận địa, chủ động phòng thủ, sẵn sàng ứng phó trong mọi tình huống nếu đối phương gây hấn đánh trở lại.
Sống trong điều kiện thiếu thốn, khắc nghiệt ấy, sức khỏe của anh Doãn Đình Chiêu ngày càng sa sút, được đánh giá loại 3. Đến tháng 5 năm 1982, anh được đơn vị cho xuất ngũ về địa phương sau khi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của người lính. Anh trở về trong niềm vui sum họp và sự mong đợi của gia đình, người thân và xóm làng. Mọi người đến chơi thăm hỏi, động viên và mừng cho anh. Thương nhất là mẹ của hai liệt sĩ đến mừng cháu trở về, nhưng trong lòng lại quặn thắt nỗi đau khi nghĩ đến con. Cả hai bà mẹ khuỵu xuống nền nhà, lăn lộn, khóc ngất gọi tên con, khiến dân làng không ai kìm nổi nước mắt. Nỗi đau tột cùng của hai người mẹ đã trở thành nỗi nghẹn ngào chung của nhiều người có mặt. Ai cũng tiếc thương cho hai liệt sĩ: đẹp trai, tài hoa, hiền lành, chịu khó và hiếu thảo. Chú Doãn Đình Vàng, con ông chú của gia đình chồng tôi, lúc ở nhà là một chàng trai hiền lành, chăm chỉ trong mọi công việc, lại có tài chơi đàn măng đô lin rất điêu luyện. Anh Doãn Đình Hoa, con ông bác, cũng là người hiền lành, chất phác, chịu khó, có năng khiếu vẽ rất đẹp. Cả hai đều xung phong nhập ngũ ngay đợt đầu, mang theo lòng yêu nước cháy bỏng và nhiệt huyết tràn đầy của tuổi trẻ.
Trở về địa phương, anh Doãn Đình Chiêu tiếp tục là một xã viên hợp tác xã, nhiệt tình, gương mẫu, tích cực tham gia các công việc thôn xóm; sống chan hòa, đoàn kết, gần gũi với mọi người, trách nhiệm với gia đình, anh em con cháu, họ tộc. Nhưng sức khỏe anh ngày càng yếu đi. Vợ chồng anh đã không có con, nhưng cả hai đều gắn bó, thủy chung, tình nghĩa, nương tựa vào nhau để đi hết phần đời còn lại. Vốn là người yêu ca hát, có tài đàn ca sáo nhị từ thời trai trẻ, anh đã phát huy khả năng đặc biệt của mình trong quân ngũ để mang lại niềm vui tinh thần cho đồng đội. Về quê hương, nhiều năm liền, anh tích cực tham gia đội văn nghệ liên xã, hóa thân vào những vai diễn chèo, để lại nhiều ấn tượng và niềm xúc động trong lòng người xem. Đến nay, đã bước sang tuổi thất thập nhưng niềm đam mê văn nghệ trong anh vẫn tràn đầy nhiệt huyết. Trong căn nhà ngói đơn sơ giản dị, những nhạc cụ như đàn, trống, sáo, nhị cùng âm loa đã trở thành “tài sản quý giá” hơn mọi thứ vật chất khác, hòa cùng các làn điệu chèo, trầu văn, mang đến niềm vui tinh thần cho anh mỗi ngày.

Niềm đam mê ca hát vẫn tràn đầy trong tâm hồn người cựu binh tuổi thất thập
Hiểu được nguyện vọng của gia đình người bác và chú ruột đều mong muốn đưa hài cốt của con mình trở về an nghỉ tại quê nhà, năm 1997, anh Chiêu đã cùng các anh em trong gia đình ra nghĩa trang Đường Hoa – Hà Cối xin chuyển hài cốt hai liệt sĩ Doãn Đình Hoa và Doãn Đình Vàng về quê hương. Được sự giúp đỡ của Phòng Thương binh xã hội huyện Quảng Hà (cũ), mọi thủ tục đã hoàn tất và hài cốt các anh được đưa về với đất mẹ thân yêu. Bà con làng xóm cùng chính quyền xã Đoàn Đào đã thăm hỏi, động viên gia đình và long trọng tổ chức Lễ truy điệu, tiễn đưa hai anh về yên nghỉ vĩnh hằng tại nghĩa trang liệt sĩ xã nhà trong niềm tiếc thương và biết ơn sâu sắc.

Nghĩa trang liệt sĩ xã Đoàn Đào
Trong gia đình họ Doãn, ngoài hai liệt sĩ và anh Doãn Đình Chiêu đã tham gia trong cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, còn phải kể đến người anh cả là Doãn Quốc Trịnh (sinh năm 1953) tình nguyện nhập ngũ năm 1970, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt. Anh thuộc Tiểu đoàn 639, Trung đoàn 2, Đại đội 4, sau gia nhập Sư đoàn 2 – đơn vị chủ lực của ta, rồi được điều vào mặt trận Đường 9 – Nam Lào, sau vào Kon Tum, Quảng Ngãi, Quảng Nam, trải qua muôn vàn gian khổ và bị nhiễm chất độc hóa học. Đến năm 1976, anh mới được trở về quê, sức khỏe suy giảm và được hưởng chế độ bệnh binh.
Người anh rể là Trần Văn Ứng (sinh năm 1950) nhập ngũ ngày 05.12.1971, thuộc Trung đoàn 48 đã tham gia chiến đấu tại chiến trường Thạch Hãn trong cuộc chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị 81 ngày đêm lịch sử năm 1972. Trong một trận đánh ác liệt, anh bị thương nặng ở chân, đôi tai ù đặc nhưng vẫn sát cánh cùng đồng đội, chiến đấu đến cùng. Đến năm 1975, khi miền Nam giải phóng, anh mới trở về, thuộc diện thương binh và mang trong mình di chứng chất độc da cam – thứ hóa chất âm thầm hủy hoại cơ thể người lính ngay cả khi chiến tranh đã đi qua.

Người anh trưởng Doãn Quốc Trịnh – cựu chiến binh nơi chiến trường miền Nam những năm 1970 – 1976

Người anh rể Trần Văn Ứng – cựu chiến binh nơi Thành cổ Quảng Trị năm 1972
Đến nay, đã hơn bốn mươi năm đã trôi qua, song ký ức về Cao Ba Lanh và những người lính năm xưa vẫn vẹn nguyên trong tâm trí của người cựu binh Doãn Đình Chiêu. Thỉnh thoảng, anh lại cất tiếng hát như để sống lại những năm tháng tuổi trẻ nơi biên giới ngày xưa:
Cao Ba Lanh, nơi tuyến đầu đất lửa,
Có chúng tôi trong tư thế sẵn sàng,
Thức đêm nay cùng dưới ánh trăng vàng
Tôi bỗng nhớ quê hương da diết
Mỗi lần nghe những ca từ đó là một lần tôi không khỏi xúc động và cảm thương. Những ngày cuối tháng Mười, cả gia đình tôi về quê và ra nghĩa trang liệt sĩ xã Đoàn Đào thắp nén hương cho anh linh các liệt sĩ, phần lớn là chàng trai tuổi đời còn rất trẻ, đã hy sinh trong các các cuộc kháng chiến. Máu xương của các anh đã hòa vào lòng đất mẹ, góp phần mang lại hòa bình hôm nay. Tôi đã dừng lại rất lâu trước tấm bia mộ của hai liệt sĩ Doãn Đình Hoa và Doãn Đình Vàng, bàn tay nâng niu khẽ chạm lên những dòng chữ đã mờ theo thời gian, để rồi trong lòng trào dâng niềm thương tiếc khôn nguôi. Giữa làn khói hương bảng lảng, tôi như thấy hiện lên những gương mặt tươi trẻ, nụ cười rạng rỡ của các anh trong màu xanh áo lính năm nào. Họ – những người con của họ Doãn, của làng Đại Duy thân thương đã hiến trọn tuổi xuân cho Tổ quốc, để quê hương được thanh bình và ngày càng phát triển đi lên, để thế hệ sau luôn khắc ghi rằng: hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu xương của bao người đi trước. Hãy luôn trân trọng, biết ơn và giữ gìn những giá trị thiêng liêng ấy như một nghĩa cử cao đẹp của mỗi con người.
Hà Nội, tháng 12 năm 2025
Phạm Thị Hường






Bình luận về bài viết này