Sức hút từ những truyện ngắn đặc sắc

Nhà văn Lê Hoài Nam là người viết đa dạng về các đề tài chiến tranh, hậu chiến, lịch sử, tôn giáo, thế sự… với nhiều thể loại khác nhau, từ truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, lý luận phê bình đến bút ký… Ở đề tài hay thể loại nào, các tác phẩm của ông đều mang đến sự hấp dẫn cho độc giả.

Bên cạnh những cuốn tiểu thuyết được vinh danh bằng các giải thưởng, ông còn là cây bút tài hoa của nhiều truyện ngắn đặc sắc, ghi dấu ấn sâu đậm trong tâm trí người đọc, người nghe. Có thể kể ra một loạt các truyện như: “Dạ khúc quạ kêu”, “Lung lay bóng nguyệt”, “Quan Tả thị lang hồi triều”, “Trời Tây xa lắc”, “Những giọt lệ đỏ thắm”, “Thung lũng sỏi”, “Sói con”, “Bữa tiệc ly”, “Đêm Thánh vô cùng”, “Cây hoa lạ ở góc vườn”, “Đêm xuân may mắn”, “Vĩ nhân thời ốc đảo”… Trong đó, “Dạ khúc quạ kêu” đã để lại cho tôi rất nhiều ám ảnh. Tuy là truyện ngắn nhưng tác phẩm lại có dung lượng khá lớn, được đăng trên Báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam. Trong chương trình “Văn học bốn phương”, truyện được giới thiệu qua hai kỳ phát sóng. Tôi đã nghe đi nghe lại nhiều lần qua giọng đọc truyền cảm và cuốn hút của Lê Thu Cúc mà vẫn không thôi ám ảnh.

Những truyện ngắn đặc sắc của nhà văn Lê Hoài Nam

Dạ khúc của đói khát và tử khí

Xưa nay, theo quan niệm dân gian, tiếng kêu của quạ hay chim cú mèo thường báo hiệu những điều xui xẻo, chết chóc, buồn đau. Ngay từ nhỏ, nghe người lớn kể chuyện, tôi đã cảm thấy rất sợ hãi, ít dám ra ngoài một mình vào buổi tối, nhất là những đêm khuya thanh vắng thì càng thêm thót tim. Và giờ đây, khi nghe truyện, cảm giác ấy lại ùa về, không chỉ rờn rợn mà còn xót thương cho những kiếp người ngày xưa.

Xuyên suốt tác phẩm là những âm thanh não nề, thê thiết của dạ khúc quạ kêu. Những tiếng kêu ấy gợi cho người đọc liên tưởng đến nạn đói khủng khiếp năm 1944 – 1945 ở miền Bắc. Xóm làng tiêu điều, xơ xác, thê lương. Khắp nơi là những người đói khát vật vờ như những bóng ma. Cái đói hành hạ đến mức làm biến dạng hình hài con người, không còn phân biệt được đâu là đàn ông hay đàn bà, già hay trẻ. Những thân hình tiều tụy chỉ còn da bọc xương, không đủ sức đi lại, nằm thoi thóp chờ chết. Xác người chết đói la liệt, chồng chất lên nhau, phải đào hố chôn tập thể. Mùi tử khí nồng nặc bao trùm khắp làng trên xóm dưới. Đàn quạ bay từng bầy rỉa xác không xuể rồi cất lên những tiếng kêu đến não lòng.

Thế nhưng, khi nghe “Dạ khúc quạ kêu”, tôi còn cảm thấy rùng rợn và xót xa hơn bởi hình ảnh những đàn quạ xuất hiện dày đặc trên cánh đồng cỏ lác – nơi phó vương Trương Phúc Loan cùng phu nhân trẻ đi qua trên đường trở về căn biệt thự nguy nga, tráng lệ vừa mới khánh thành giữa một vùng quê nghèo khổ. Đó vừa là nơi tiếp khách để nhận những của ngon vật lạ, những lễ vật cống nạp từ quan lại các địa phương, vừa là nơi để tận hưởng tuần trăng mật với thiếu nữ họ Mai. Nàng mới tròn mười sáu tuổi, được chính cha mình dâng tặng cho Trương Phúc Loan với mong muốn được thăng quan tiến chức.

Bằng sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú và tài kể chuyện của mình, nhà văn đã tái hiện sinh động, đầy ám gợi về những âm thanh khác nhau của tiếng quạ kêu. “Chúng đan xen vào nhau vừa rời rạc, vừa ghê sợ, có gì đó âm u hoang vắng như kéo bóng tối xuống, mang màn đêm về. Một dạ khúc lạnh tanh và ghê rợn”. Nghe những câu văn ấy, người yếu bóng vía như tôi không khỏi rùng mình. Và càng thương cảm hơn trước những phận người bé nhỏ, tội nghiệp. Những xác người chết đói không có ai chôn cất mà bị quạ rỉa.

Ghê rợn hơn là cảnh đàn quạ bay vần vũ mà chính mắt Trương Phúc Loan cũng nhìn thấy, trên mỏ chúng kẹp những mẩu thịt người, khiến ngài tỏ ra khó chịu. Ngài nổi nóng: “Sao chúng không chết trong nhà lại ra cánh đồng mà chết làm chi cho quạ nó ăn mất xác vậy hả. Ngu. Ngu. Đúng là cái đồ quạ tha”.

Quạ, loài chim chuyên ăn xác chết (Nguồn ảnh từ Internet)

Mạng người không bằng cỏ lác

Mạng người dưới con mắt của ngài chẳng đáng là gì, chỉ làm tăng thêm sự bực tức, mất cả hứng khi đang tình tứ với phu nhân trẻ. Nàng giải thích rằng do họ đói quá, phải ra cánh đồng bới tìm cỏ lác ăn rồi kiệt sức chết gục ở đó. Ngài cũng chỉ dửng dưng nghe cho qua chuyện, chứ quan tâm gì lúc này.

Thương tâm nhất là thảm cảnh diễn ra ngay trước mắt mọi người khi cỗ xe tam mã đi qua: “một bé gái khoảng 11, 12 tuổi đang nằm sấp, hai tay dang ra ôm lấy một bụi cỏ lác. Những con quạ tranh nhau mổ phía sau lưng, lôi ruột gan của bé ra. Hẳn cô bé vừa chết nên máu vẫn đỏ tươi, nhuộm thấm đầu những con quạ. Một mùi tanh lờm lợm theo gió phả lên mặt đường”. Sáu người trên xe đều phải lấy khăn che mũi và miệng. Người đọc, người nghe không khỏi xót thương cho sinh mạng một bé gái đã trở thành mồi của quạ. Một cảnh tượng tàn khốc đến nhói buốt tâm can.

Ghê rợn hơn nữa là cảnh “ăn thịt người” diễn ra ngay trong một gia đình, được phu nhân họ Mai kể lại rành rọt cho phó vương nghe. Đó là một bé gái mới mười tuổi “xinh ơi là xinh, hôm trước bị cả nhà đè ra giết, rồi lấy thịt luộc ăn”. Bộ xương của cô bé hiện bỏ trong cái nồi đất chôn dưới góc vườn khoai. Trương Phúc Loan chỉ nhướng mày hỏi qua loa là thật hay bịa, rồi lại dửng dưng: “Thời buổi này mạng người chẳng đáng để đổi lấy một gánh cỏ cho trâu ăn thì hà cớ gì mà phải băn khoăn day dứt về sinh mạng của một cô bé 10 tuổi chi cho mệt”. Không còn gì rùng rợn và xót thương hơn trước sinh mạng người dân dưới thời mạt vận của chúa Nguyễn ở Đàng Trong cuối thế kỷ XVIII.

Sự tàn nhẫn, lộng quyền của Trương Phúc Loan và cái kết

Trải qua hơn 200 năm với tám đời chúa Nguyễn gây dựng cơ đồ, mở mang bờ cõi về phía Nam, thì trong khoảng hai mươi năm sau đó, triều đại này đã trượt dài vào cảnh ăn chơi sa đọa, khiến cơ nghiệp nhà chúa đứng bên bờ vực thẳm. Trong đó, không thể không nhắc đến cái tên Trương Phúc Loan – một quyền thần cuối thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

Bằng sự khôn ngoan mưu kế của mình, Phúc Loan đã lấn át mọi quyền hành trong phủ chúa. Năm 1765, khi Vũ (Võ) vương Nguyễn Phúc Khoát qua đời, chính quyền Đàng Trong rơi vào tay Trương Phúc Loan. Loan đã thao túng triều chính, tự xưng là quốc phó, giết Nguyễn Phúc Luân (thân phụ của Hoàng đế Gia Long Nguyễn Phúc Ánh sau này) và lập Nguyễn Phúc Thuần mới 12 tuổi lên nối ngôi (tức Định Vương). Ông ta tiếp tục dẫn dụ Định Vương sa vào con đường ham mê tửu sắc, ăn chơi sa đọa ngay từ khi còn thiếu niên, để rồi trở nên nhu nhược, chỉ còn là một bù nhìn. Loan đã lạm dụng quyền hành của mình để ra sức lộng hành, mua quan bán tước, ăn tiền hối lộ, Đánh thuế nặng nề, hình phạt  tàn khốc , khiến người dân cực khổ trăm bề.

Có thể nói, Trương Phúc Loan là một tên quan tham khét tiếng thời bấy giờ. Bất kể chức quan to nhỏ gì ở cấp dưới cũng phải đút lót, hối lộ bằng những lễ vật có giá trị. Ông ta còn dung dưỡng cho bọn tay sai dưới quyền mặc sức vơ vét, bóc lột, bòn rút của dân, không từ thứ gì. Chính vì vậy, đời sống của người dân trở nên kiệt quệ, không còn đường sống, đến mức họ phải ăn cả có lác, thậm chí phải giết người thân để ăn thịt như lời kể rất hồn nhiên của phu nhân trẻ. Tính mạng của những con người tội nghiệp đáng thương ấy trở nên rẻ rúng, không đáng giá một đồng xu. Đó là tận cùng của nỗi đau xót và phẫn uất hờn căm.

Tham quan Trương Phúc Loan (Nguồn ảnh từ Internet)

Trong khi đó, cuộc sống xa hoa vương giả của Trương Phúc Loan đã được tác giả kể và miêu tả tưởng như chỉ có trong truyện cổ tích. “Vàng, bạc, châu, ngọc, lụa chất “thành núi. Ruộng vườn, nhà cửa, tôi tớ, trâu ngựa không đếm xuể. Có một năm vào mùa thu bị lụt lớn, hòm xiểng bị ngập, khi nước rút, ông cho đem vàng ra phơi nắng, lấp lánh cả một sân”. Cũng chính vì sự lộng quyền, tham lam, tàn ác, ăn chơi xa xỉ mà Trương Phúc Loan đã trở thành biểu tượng cho sự suy đồi của bộ máy cai trị cuối thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Phúc Loan còn bày đặt ra các phường chơi xuân rất tốn kém để làm trò mua vui tiêu khiển cho chúa. Và, đó cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến chính quyền các chúa Nguyễn sụp đổ một cách thảm hại và gây ra nỗi thống khổ tột cùng cho muôn dân.

 “Dạ khúc quạ kêu” là điệp khúc buồn tủi, tang tóc thê lương cất lên đầy sự xót xa thương cảm về thân phận người dân lao động ở Đàng Trong cuối thế kỉ XVIII. Đồng thời tác giả cũng báo hiệu một minh chủ mới xuất hiện để tiêu diệt lũ cận thần và quan tham sâu mọt vào cuối đời chúa Nguyễn, làm sáng danh trang sử vàng của dân tộc. Đó là sự nổi dậy dưới ngọn cờ chính nghĩa của anh em nhà Tây Sơn (Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ) được đông đảo nhân dân hưởng ứng và tin theo. Ở cuối truyện, Trương Phúc Loan đã bị bắt kèm theo nhiều vàng bạc châu báu mà các quan cấp dưới cống nạp để mua chức. Cũng trong ngày tận thế đó, ngôi biệt thự nguy nga tráng lệ ở xóm Dương đã bị người dân đập phá một cách không thương tiếc cho hả sự căm phẫn bấy lâu. Và cuối cùng, “Họ khuân hết tiền, vàng và các phẩm vật khác từ dưới hầm ngầm giao nộp cho anh em nhà Tây Sơn. Rồi châm lửa đốt tất cả những gì còn sót lại”. Một cái kết không thể tránh khỏi dành cho kẻ tham lam, lộng quyền và tàn bạo như Trương Phúc Loan.

Có thể nói, “Dạ khúc quạ kêu” là một truyện ngắn hay và ám ảnh, mang đậm giá trị nhân văn sâu sắc cùng nỗi niềm trắc ẩn của tác giả trước những kiếp người nhỏ bé, bất hạnh. Mỗi câu chữ đều chất chứa nỗi day dứt và xót thương, để lại dư âm sâu đậm trong lòng người đọc. Qua đây, ta càng biết ơn cuộc sống hôm nay, biết quý trọng những gì mình đang có và mở lòng cảm thông, sẻ chia nhiều hơn với những cảnh đời còn nhiều khó khăn, bất hạnh quanh mình.

Hà Nội, đầu tháng 6 năm 2026

Phạm Thị Hường

Bình luận về bài viết này

Thịnh hành