Tác giả: Nguyễn Thanh Khiết
Nhân ngày Hội làng Bầu Mùng Ba tháng Chín Âm lịch năm nay (2026) Lão tôi, một con dân của làng muốn nhắc với các thế hệ đồng hương một địa danh tâm linh của làng mà có thể rất nhiều người trong các bạn không biết. Đó là đền Hương tử.
Đền Hương tử làng Bầu ngày xưa nằm ở phía sau nhà Tam bảo trong khuôn viên chùa, bây giờ không còn dấu tích gì. Theo quan sát của lão thì nền đền hiện nay thuộc đất của trường Mẫu giáo Xuân Cẩm trước đây là trường Tiểu học. Vườn chùa xưa khá rộng và vuông vức, được bao quanh bằng hàng cây nhãn và ngoài cùng là lũy tre. Gọi là vườn nhưng ngày lão tôi còn bé vẫn thấy nhà chùa cấy lúa ở đây, mặc dù việc cấy lúa ở vườn phải tát nước từ ao lên rất vất vả.
Lão tôi chưa một lần được vào đền Hương tử nhưng theo hồi ức của nhà giáo già Nguyễn Hải Vân, nhà ở gần chùa, thủa bé thường được theo ông chú (là thày cúng) ra chùa cúng bái ngày rằm, mùng một, thì Đền Hương tử gồm có ba gian nhà ngói nhỏ, cửa mở về hướng nhà Tam bảo, phía hậu là vườn chùa, hai đầu hồi có hai cây nhãn cổ thụ. Bên trong đền có hương án, ngựa gỗ rất to (để rước ra đình ngày hội làng) ngoài hiên đắp nổi mỗi bên một tượng đức chúa. Đền có một khoảng sân nhỏ, giữa sân là gác chuông. Cũng theo nhà giáo Hải Vân thì năm 1953 máy bay Pháp thả xuống góc bên phải vườn chùa một quả bom, làm xụp đền Hương tử và gác chuông đồng thời làm chết một người đàn bà không rõ quê quán đang làm công quả ở chùa (tên là Tín). Hồi ấy đang là thời kháng chiến chống Pháp, làng ta thường xuyên bị máy bay Pháp ném bom và mooc chê từ Núi Đôi bắn sang, dân làng nhiều gia đình phải chạy tản cư lên tận Thái nguyên, việc phục dựng những di tích tâm linh này là không thể. Về sau trên nền đền Hương tử được dựng lên một lớp học bằng tranh tre, thày giáo Vân và tôi đều đã từng được ngồi học trong lớp học tranh tre này.
Ai cũng biết Chùa là nơi thờ Phật, Đình để thờ Thành hoàng làng, đền theo cách gọi thông thường của người Việt là nơi thờ Thánh, thờ Thần (đền Sóc thờ Thánh Gióng, đền Kiếp Bạc thờ Trần Hưng Đạo, đền Bà Chúa Kho, Đền Bà chúa Xứ vv…) Vậy Đền Hương Tử của làng Bầu thờ ai?
Lão tôi tra cứu thì được biết: Chữ “Hương Tử” không có trong từ điển Hán Việt, còn văn bản chữ nho của làng Bầu thì nay không còn gì. Chỉ có thể lấy hai chữ Hương (鄉) nghĩa là Làng, Tử (子) nghĩa là Con để ghép lại; từ đó mà hiểu rằng Hương Tử là “Con Dân Của Làng”.
Theo truyền miệng của những người cao tuổi thì Đền Hương Tử làng Bầu thờ vong hồn của những người làng ở các thế hệ trước không có nơi thờ cúng, bao gồm:
-Những người làng Bầu chết trận trong các cuộc chiến. Trước đây không có nghĩa trang liệt sỹ, không có đài tưởng niệm liệt sỹ để tôn vinh liệt sỹ như bây giờ, người chết trận thường chết trẻ, chết mất xác, thậm chí chết ở đâu cũng không rõ… con cháu nơi quê nhà lâu ngày cũng không còn thờ cúng họ.
-Những người làng vì lẽ gì đó phải bỏ làng đi tha phương cầu thực, chết đường chết chợ ở nơi khác…vong hồn họ cũng vất vưởng không được thờ cúng.
Nếu Đến Hương Tử làng Bầu chỉ thờ cúng hai đối tượng này thì đền giống hoàn toàn với Miếu Cô hồn mà rất nhiều làng có, miếu này thường được đặt ở nơi vắng vẻ bên ria làng. Ở Huế người dân còn dựng một ngôi miếu khá lớn gọi là Miếu Âm hồn để thờ cúng những người lính của triều đình nhà Nguyễn đã chết trong cuộc phản công chống thực dân Pháp ở đồn Măng cá trong sự kiện Kinh thành thất thủ năm 1885.
Chỉ thế thôi đã thể hiện tinh thần nhân văn rất cao quý của người làng Bầu với tiền nhân rồi, không cần biết họ là ai, họ giàu hay nghèo, họ sống như thế nào, họ chết vì lý do gì, ở đâu? chỉ cần họ là người làng Bầu là họ được thờ cúng trong một ngôi đền có vị trí rất đắc địa, vừa là điểm cao nhất trong thế đất “hình nhân” của làng, lại được nương nhờ cửa Phật.
Theo tinh thần này nên trong Chúc Văn đọc trong lễ tế ở đình làng dịp Khánh thành phục dựng Đình làng Bầu năm 2012 tôi có soạn lời khấn sau: “Kính thỉnh hương hồn các con dân của làng thuộc các bậc tiền nhân, tiền bối. Các vị đã ra đi bởi mọi lẽ đời, linh hồn nay phiêu bạt khắp nơi vì không còn đền Hương Tử. Kính thỉnh các chư hồn về đình làng tọa theo ngôi thứ. Thụ hưởng lễ vật của dân làng đời nay!”
Tuy nhiên tôi được biết có nhiều sự việc chứng minh rằng Đền Hương Tử làng Bầu có ý nghĩa lớn hơn Miếu Cô hồn rất nhiều.
Thứ nhất: Theo truyền thống của làng ngày xưa, khi rước kiệu trong ngày Hội làng (mùng 3 tháng 9 Âm lịch) thì khởi kiệu bao giờ cũng từ đền Hương Tử, có thỉnh chuông chùa, gióng chiêng trống ở tháp chuông, có dừng lại vái vọng Văn chỉ, Võ chỉ (cũng ở hai bên cửa chùa) rồi mới rước Thánh ra Đình làm lễ.
Thứ hai: Theo kể lại thì ngày xưa người làng đi làm ăn xa, đi thi cử đều ra Đền Hương Tử làm lễ, khấn vái cầu nguyện. Theo lời kể của mẹ tôi thì Cậu của mẹ tôi là cụ Nguyễn Văn Tỳ trước khi đi thi lấy bằng Thành chung ở Phủ Lạng thương (TP Bắc giang) gia đình đã ra Đền Hương tử làm lễ rất long trọng . Sau kỳ thi ấy Cụ là người đầu tiên của Tổng Cẩm bào có bằng Diploma (Diplôme d’études primaires supérieures – tương đương với bằng TN PTCS bây giờ, sau này Cụ là Đảng viên cộng sản, là Chủ tịch UBHC Kháng chiến đầu tiên của xã Trung Nghĩa).
Thứ ba: Theo tôi biết thì Đền Hương tử còn thờ cả những người không có con trai hương hỏa. Bằng chứng là Cụ Ngoại tôi, chú ruột của cụ Tỳ. Cụ nhà giàu nhưng chỉ sinh được một mình bà ngoại tôi. Cuối đời Cụ đã hiến gần như toàn bộ gia sản vào chùa, ra sống hẳn ở chùa, vì thế cả làng gọi cụ là Cụ Chùa. Cụ là người bỏ tiền xây nhà Tổ chùa Bầu (làm nơi ở của sư và thờ cúng các vị sư tiến bối đã trụ trì chùa Bầu) Cụ còn hiến cho nhà chùa khá nhiều ruộng, trong đó có một thửa ruộng lớn ở cánh đồng Mả Hễ gọi là ruộng Chùa, sau này do đào sông máng qua, thửa ruộng ấy chỉ còn một vạt đuôi nheo chừng 2 sào, nhà sư canh tác mãi đến tận thời có HTX nông nghiệp – nhiều người trong làng bây giờ còn nhớ. Bà ngoại tôi kể rằng Cụ ngoại tôi dặn rằng ngày giỗ cụ nhớ sắp cả lễ ra cúng ở đền Hương Tử.
Gắn kết tất cả những gì biết được về Đền Hương tử, lão tôi cứ băn khoăn với ý nghĩ rằng:
Làng mình là làng cổ, dân ở đây từ xửa từ xưa, khai phá lập làng, bao nhiêu đời đã qua ai mà biết được. Làng ta đất chật người đông, lại bị chiến tranh tàn phá, chẳng họ nào có nhà thờ, còn gia phả. Đối với người Việt Nam việc thờ cúng tổ tiên xưa nay thường tuân theo Luật Hồng đức, với quy tắc truyền thống: “Ngũ đại mai thần chủ” nghĩa là người chết đã 5 đời rồi thì không cần phải cúng thờ nữa.
Vậy:
Phải chăng người làng Bầu xưa đã tự bổ xung thêm vào lễ nghi thờ cúng tổ tiên của mình bằng cách lập ra Đền Hương Tử, để cúng tế cả các bậc tiền nhân đã mất trên 5 đời, không còn được cúng giỗ riêng trong gia đình nữa?
Phải chăng làng Bầu từ ngày xưa đã thấu hiểu “dân là gốc” là thế nào rồi? Có thế thì ngày Hội làng mới bắt đầu từ Đền Hương tử chứ! Thế chẳng phải là Cúng dân trước rồi mới cúng Thánh sao?
Phải chăng vì mục đích cao cả này mà riêng làng Bầu không gọi là Miếu Cô hồn mà gọi là Đền Hương tử? (Đền là nơi thờ cúng lớn hơn Miếu nhiều)
Trên đây là một vài điều nói về Đền Hương tử làng Bầu. Rất mong được các bạn đồng hương đóng góp ý kiến.
HN ngày 17/9/2026 (7/8 AL)




Trả lời