Về đỗ đạt khoa bảng thời xưa, phủ Bắc Hà có 4 huyện thì huyện Hiệp Hòa đứng thứ hai. Trong “Lịch chiều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú có chép: “Về khoa mục thì huyện Kim Hoa nhiều hơn rồi đến huyện Hiệp Hòa, huyện Thiên Phúc và huyện Việt Yên. Huyện Kim Hoa 17 người, huyện Hiệp Hòa 10 người, huyện Tiên Phúc 8 người, huyện Việt Yên có 6 người”. Nếu kể cả một người ở Ngọ Xá, một người ở Đoan Bái, một người ở Trung Định và một người đỗ ở thời Nguyễn mà Phan Huy Chú không thống kê thì qua 11 khoa thi Hiệp Hòa có 13 người đỗ tiến sỹ. Thi đỗ cử nhân, tú tài, hiện chưa có tài liệu đầy đủ nhưng chắc chắn có nhiều.
Về thể thức thi tuy có sự thay đổi nhưng nhìn chung là theo quá trình: thi Hương ở các trấn để tuyển chọn cống sinh (Hương Cống), đỗ thi Hương được lên kinh đô thi Hội và thi Đình. Thi Hội lấy tiến sĩ (dân gian gọi là ông Nghè), thi Đình để xếp bậc tiến sĩ: đỗ thủ khoa là Trạng Nguyên, rồi đến Bảng nhỡn, Thám hoa. Đỗ tiến sĩ được vua ban mũ áo, cân đai và được khắc tên vào bia đá ở Văn Miếu, Hà Nội.
+ Năm Giáp tý 1384 nhà Trần tổ chức khoa thi Thái học sinh tại Phật Tích (Tiên Du), ông Đoàn Xuân Lôi là người đầu tiên của Hiệp Hòa đỗ Trạng nguyên. Ông người làng Trâu Lỗ (còn gọi là làng Sổ hay Ba Lỗ), xã Mai Đình, Hiệp Hòa. Ông làm trợ giáo Quốc tử giám thời Trần Thuận Tông (1388-1398), cực lực vạch tội Hồ Quý Ly, khinh thường bàn bạc sách thánh hiền, vì thế phải đày đi cận châu, sau được phục chức làm đến Hoàng môn thị lang kiêm Thông phán Ái châu, rồi mất tại quan. Tác phẩm tiêu biểu của ông là bài thơ phú “Diệp mã nhi” (con ngựa lá) bằng chữ Hán có ý đả kích Hồ Quý Ly.
+ Lê Như Thông, người xã Hương Lâm, huyện Hiệp Hòa (xưa là xã Phúc Linh), thi đỗ Đồng Tiến sỹ khoa Giáp Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 12 (1484)
+ Khoa thi năm Mậu Dần 1518 dưới triều vua Lê Chiêu Tông: Ngọ Doãn Thọ người xã Ngọ Xá, tổng Ngọ Xá, Hiệp Hòa đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân.
+ Khoa thi năm Bính Tuất 1526 thời vua Lê Cung Hoàng: Khổng Tư Trực, người xã Đoan Bái, tổng Đông Lỗ, Hiệp Hòa đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân.
+ Khoa thi năm Kỷ Sửu 1529 thời vua Mạc Đăng Dung:
Nguyễn Hoàng (trong Văn Miếu ở Hà Nội ghi là Nguyễn Mao) người xã Đức Thắng, tổng Đức Thắng, Hiệp Hòa đỗ Đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân.
Nguyễn Doãn Địch, sinh 1490 người xã Hoàng Vân, tổng Hoàng Vân, Hiệp Hòa đỗ Đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân.
+ Khoa thi năm Mậu Tuất 1538 dưới triều Mạc Đăng Doanh:
Hoàng Sầm, sinh năm 1512 tại xã Thù Sơn, tổng Quế Trạo, Hiệp Hòa đỗ Thám hoa làm đến thượng thư, tước Hoàng Phúc Bá, là con rể Nguyễn Doãn Dịch.
Ngô Trang, người xã Ninh Định, tổng Gia Định, Hiệp Hòa đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân.
+ Khoa thi năm Đinh Mùi 1547 thời vua Mạc Phúc Nguyên: Nguyễn Thời Lượng người xã Gia Định, tổng Gia Định, Hiệp Hòa đỗ Đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân.
+ Nguyễn Phượng Sồ: người xã Châu Minh, huyện Hiệp Hòa, đỗ Đệ tam đồng tiến sỹ xuất thân khoa Bính Thìn, niên hiệu Quang Bảo thứ hai (1556) đời Mạc Phúc Nguyên. Làm quan đến chức Phụng thiên phủ doãn.
+ Khoa thi năm Kỷ Mão 1559 thời vua Mạc Phúc Nguyên: Nguyễn Kính, người xã Quế Trạo, tổng Quế Trạo, Hiệp Hòa, sinh 1522, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân, làm đến Hộ bộ thượng thư, tước Hương sơn hầu, đã từng đi sứ.
Đi sứ là việc hết sức quan trọng, người đi sứ phải là những đại thần lỗi lạc, toàn diện, nhất là văn học, chính trị. Từ năm 1428 – 1788 thuộc thời Lê và Mạc, Hà Bắc có 107 vị đi sứ, trong đó tỉnh Bắc Giang có 5 thì huyện Hiệp Hòa có 2 người. Thời gian đi sứ khoảng 1 năm. Đường đi dài trên 2400 km, vượt sông núi, băng rừng, chịu đựng nắng mưa gió rét, thời tiết khắc nghiệt lam sơn chướng khí, thủy thổ không hợp, thú dữ, trộm cướp, phương tiện thô sơ, tai nạn nguy hiểm luôn xảy ra. Có 7 vị đi sứ mất ở dọc đường, một vị mất ở Yên Kinh (Bắc Kinh), một vị mất ở nhà.
+ Tạ Thuần sinh 1538, người làng Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, năm 52 tuổi thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân khoa Kỷ Sửu 1589 đời Mạc Mậu Hợp. Làm quan nhà Mạc đến chức Giám sát, sau theo nhà Lê làm đến chức Thừa chính sứ.
+ Khoa thi năm Giáp Tuất 1574 thời vua Mạc Mậu Hợp: Nguyễn Như Tiếp người Phúc Mỹ, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân.
+ Khoa thi năm Nhâm Thìn 1592 thời Mạc Mậu Hợp: Nguyễn Hữu Đức người xã Vân Cẩm, tổng Đông Lỗ, Hiệp Hòa sinh năm 1569 đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân.
+ Nguyễn Nhân Trừng, người xã Châu Minh, Hiệp Hòa, sinh 1587. Năm 37 tuổi dự Hội khóa Quý Hợi niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 5 (1623) đời vua Lê Thần Tông đã trúng cách, sau vào thi đỗ Đồng tiến sỹ xuất thân. Theo Liệt tuyện đăng khảo: ông cùng với Nguyễn Trật bị nghi ngờ vì cố tình “dính lứu trong việc thi cử không rõ ràng” cho nên không được ban thứ bậc. Sau làm quan tới chức Đô cấp sự trung, tước Nam.
+ Khoa thi năm Tân Sửu 1721 thời vua Lê Dụ Tông: Ngô Dụng người xã Vân Trùy, tổng Hoàng Vân, Hiệp Hòa sinh năm 1684 đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân, làm đến Bộ tả thị lang.
+ Hoàng Đình Tá, người xã Thái Sơn, huyện Hiệp Hòa, đỗ Đồng tạo sĩ trúng hạng Khoa Bính thìn Vĩnh hựu thứ hai 1726 đời vua Lê Ý Tông (Võ Tiến sỹ)
+ Khoa thi năm Tân Sửu 1901 thời vua Thành Thái triều Nguyễn: Nguyễn Đình Tuân người làng Trâu Lỗ, xã Mai Đình sinh năm 1867 đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân, đỗ đầu trong 9 vị tiến sĩ khoa này. Ông nổi tiếng thần đồng từ nhỏ. Ông đã từng giữ các chức: Tri huyện Việt Yên – Bắc Giang, Giáo thụ tỉnh Yên Bái, Đốc học tỉnh Ninh Bình, Đốc học Trường Quy Thức – Hà Nội, Đốc học Hà Đông, Án sát tỉnh Cao Bằng, Án sát tỉnh Bắc Ninh, Án sát tỉnh Thái Nguyên, Tuần phủ Thái Nguyên. Ông là người khai lập xã Tân Cương thuộc tỉnh Thái Nguyên và là vị tổ nghề đối với cây chè Tân Cương nổi tiếng.
Tài liệu tham khảo
1. Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hòa. Ban thường vụ huyện ủy xuất bản năm 1992, khổ 13 x 19 cm, 168 trang.
2. Các vị Tiến sỹ huyện Hiệp Hòa từ thời phong kiến đến nay. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Hiệp Hòa. Nhà xuất bản Lao động, 2022.
Bùi Thế Tâm biện soạn lần đầu 7/1/2009 đăng trên hiephoa.net, bổ sung ngày 22/9/2026 và đăng trên hiephoanet.com
= = = = = = = = = = = = = = = = = = =
Bàn về việc học ngày xưa: Khi nền giáo dục chỉ đào tạo người làm quan
Trong xã hội phong kiến Đông Á, đặc biệt dưới ảnh hưởng của Nho giáo, việc học của tầng lớp sĩ tử chủ yếu hướng tới một mục tiêu rất rõ ràng: tu thân, học đạo lý, làm văn và thi đỗ để bước vào bộ máy cai trị. Những tác phẩm như Tam tự kinh, Tứ thư (Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử), Ngũ kinh (Kinh thi, Kinh thư, Kinh lễ, Kinh dịch, Kinh Xuân thu) cung cấp nền tảng về đạo đức, luân lý và tư tưởng chính trị; người học còn phải luyện thơ, phú, văn sách, kinh nghĩa để phục vụ các kỳ thi (thi Hương, thi Hội, thi Đình). Đó là một hệ thống giáo dục có những giá trị riêng, nhất là việc đề cao đạo đức, trách nhiệm, trật tự xã hội và việc học. Nhưng khi nhìn từ yêu cầu của một xã hội bước vào thời đại khoa học – kỹ thuật hiện đại, những giới hạn của hệ thống ấy cũng trở nên rất rõ ràng.
Vấn đề lớn nhất không hẳn nằm ở việc học Nho giáo, mà nằm ở chỗ nhà nước gần như không xây dựng một hệ thống giáo dục tương xứng cho những lĩnh vực khác của đời sống. Một xã hội muốn phát triển cần có nhiều loại người: người nghiên cứu toán học, thiên văn, vật lý, hóa học; người giỏi cơ khí, luyện kim, xây dựng, hàng hải; người am hiểu nông nghiệp, y học; người tổ chức sản xuất, thương mại, tài chính và vận tải. Trong khi đó, con đường học vấn danh giá nhất lại tập trung vào kinh điển và khoa cử. Tài năng xã hội vì thế bị hút mạnh vào con đường làm quan.
Điều này tạo ra một nghịch lý: một người có thể rất giỏi văn chương, thuộc kinh điển, làm được một bài phú tuyệt tác, nhưng những tri thức ấy không trực tiếp tạo ra máy móc, tàu biển, súng đại bác, đường sá, nhà máy hay một hệ thống tài chính hiện đại. Trong khi đó, các nước phương Tây từ thế kỷ XVII–XIX ngày càng hình thành một nền văn hóa khoa học và kỹ thuật, rồi tiến tới Cách mạng công nghiệp. Toán học được sử dụng để xây dựng máy móc và công trình; vật lý trở thành cơ sở của cơ khí, điện và hàng hải; hóa học phục vụ luyện kim, công nghiệp và quân sự; những phát minh kỹ thuật lại tiếp tục làm thay đổi năng lực sản xuất và chiến tranh.
Sự khác biệt ấy cuối cùng không chỉ tạo ra khoảng cách về đời sống vật chất mà còn biến thành khoảng cách về sức mạnh quốc gia. Một nước có nền sản xuất thủ công nhỏ bé, giao thông chậm chạp, công nghiệp yếu, vũ khí lạc hậu và hệ thống tài chính hạn chế sẽ rất khó đối đầu với một quốc gia đã có tàu hơi nước, pháo hiện đại, công nghiệp luyện kim, hệ thống vận tải và khả năng sản xuất vũ khí ở quy mô lớn. Khi phương Tây tiến hành bành trướng sang châu Á trong thế kỷ XIX, khoảng cách ấy trở nên đặc biệt khắc nghiệt.
Sự suy yếu của các quốc gia phương Đông là kết quả của nhiều yếu tố đan xen: cơ cấu kinh tế, thể chế chính trị, tổ chức quân đội, chính sách đối ngoại, khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, tình trạng tài chính quốc gia và đặc biệt là sự xuất hiện của chủ nghĩa thực dân phương Tây. Bản thân Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản hay Triều Tiên cũng có những hoàn cảnh lịch sử khác nhau. Nhật Bản, chẳng hạn, cũng có truyền thống Nho học nhưng sau Minh Trị Duy Tân đã tiến hành cải tổ sâu rộng và nhanh chóng xây dựng nền giáo dục khoa học, công nghiệp và quân sự hiện đại.
Bài học quan trọng: một quốc gia không thể chỉ đào tạo những người biết “nói về đạo lý” mà phải đồng thời đào tạo những người biết khám phá quy luật tự nhiên, tạo ra công nghệ, tổ chức sản xuất và quản lý nền kinh tế. Đạo đức cần thiết cho xã hội, nhưng đạo đức không thể thay thế khoa học; văn chương không thể thay thế kỹ thuật; lòng trung thành không thể thay thế năng lực tổ chức; và ý chí chiến đấu không thể bù đắp mãi cho sự thua kém về công nghệ và sản xuất.
Có lẽ đây mới là điểm đáng suy ngẫm nhất khi nhìn lại nền giáo dục phong kiến. Một quốc gia muốn mạnh phải biết đào tạo con người phù hợp với những vấn đề mà quốc gia ấy sẽ phải đối mặt trong tương lai, chứ không chỉ đào tạo con người thật giỏi để đáp ứng những tiêu chuẩn của quá khứ. Khi thế giới thay đổi mà chương trình giáo dục không thay đổi theo, tri thức từng có giá trị có thể dần trở thành chiếc khung giới hạn chính xã hội đã tạo ra nó.
Và khi những con tàu hơi nước xuất hiện ngoài biển, những khẩu đại bác hiện đại xuất hiện trước thành lũy, còn trong trường học người ta vẫn chủ yếu tranh luận về kinh nghĩa, thơ phú và những chuẩn mực của người quân tử, thì khoảng cách giữa tri thức được tôn trọng và tri thức tạo ra sức mạnh vật chất đã trở thành một khoảng cách có thể quyết định số phận của cả một quốc gia.
Nếu một xã hội coi người học giỏi nhất là người thuộc kinh điển, làm văn hay, thi đỗ và làm quan, nhưng lại không tạo địa vị tương xứng cho người nghiên cứu máy móc, luyện kim, hàng hải, toán học, hóa học hay kỹ thuật quân sự, thì xã hội ấy đang vô tình đầu tư nhân tài vào một hướng nhưng lại để trống những lĩnh vực quyết định sức mạnh vật chất.




Bình luận về bài viết này