Đoàn Xuân Lôi người làng Trâu Lỗ, xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang, đỗ Trạng nguyên năm 1384. Sách ”Đại Việt Sử Ký Bản Kỷ Toàn Thư” chép “Giáp Tý, [Xương Phù] năm thứ 8 [1384], (Minh Hồng Vũ năm thứ 17). Mùa xuân, tháng 2, Thượng hoàng cho thi thái học sinh ở chùa Vạn Phúc núi Tiên Du , [lấy đỗ] bọn Đoàn Xuân Lôi, Hoàng Hối Khanh… 30 người.”
1. Tiểu sử
Trong năm 1384, tháng 2 vua Trần Phế Đế mở khoa thi Thái học sinh ở chùa Vạn Phúc, núi Tiên Du, Bắc Ninh. Trong khoa thi này, Đoàn Xuân Lôi đã đỗ đầu. Đoàn Xuân Lôi là người họ Đoàn ở làng Trâu Lỗ, xã Mai Đình, huyện Hiệp Hoà, Bắc Giang. Dòng họ này vốn quê cha đất tổ ở Thanh Hoá, di cư ra Bắc rồi cư trú ở Trâu Lỗ. Đến đời Xuân Lôi thì phát Trạng. Về việc này tấm bia ghi chép về Đoàn Xuân Lôi ở làng Trâu Lỗ có chép: “Ông họ Đoàn, tên huý là Xuân Lôi. Bản quán ở đất Thanh Hoá. Cha ông đến cư trú ở Trâu Lỗ đã mấy đời”.
Sau khi đỗ Trạng nguyên Đoàn Xuân Lôi được cử làm quan chức Quốc tử trợ giáo, dạy ở Quốc tử giám, nổi tiếng văn thơ. Tính ông khảng khái không kiêng dè ai cả.
Năm 1392 khi Hồ Quý Ly – lúc đó là Đồng binh chương sự, Phụ chính thái sư, họ ngoại của Trần Nghệ Tông – soạn sách Minh Đạo gồm 14 thiên dâng lên vua, bàn một số việc của các bậc tiên thánh. Vua ban chiếu dụ khen. Xuân Lôi có bàn với Đào Sư Tích cho rằng Hồ Quý Ly như thế là không phải, lạm dụng người xưa mà mưu việc riêng mình, ông không đồng ý ở nhiều đoạn, bèn viết một bài bình luận gởi thẳng cho Quí Ly, bài bác gay gắt. Hồ Quí Ly bị chạm tự ái, nổi giận, giáng chức ông xuống làm Thông phán và đày đi Ái Châu, Thanh Hoá. Đồng thời, Trạng nguyên Đào Sư Tích là người hay lui tới đọc sách với ông cũng bị giáng chức, vì Quí Ly cho là cùng một phái với ông. Trạng nguyên Đào Sư Tích quê ở Song Khê, Yên Dũng, Bắc Giang, con của Tiến sĩ Đào Toàn Bân.
Về sự kiện này, sách “Đại Việt Sử Ký Bản Kỷ Toàn Thư” chép: “Nhâm Thân, năm thứ 5 (1392). (Minh, năm Hồng Vũ thứ 25). Tháng 12. Đày viên Quốc tử trợ giáo là Đoàn Xuân Lôi đi cận châu, giáng chức viên Hành khiển Đào Sư Tích làm Trung thư thị lang đồng tri Thẩm hình viện sự. Quý Ly làm 14 thiên Minh Đạo dâng lên vua. Đại lược nhận định Chu Công là tiên thánh, Khổng Tử là tiên sư; sắp xếp ngôi thứ thờ ở Văn Miếu: đặt bài vị Chu Công ngồi giữa, mặt hướng nam; bài vị Khổng Tử ngồi bên, mặt hướng tây. Trong sách Luận ngữ có 4 chỗ, Quý Ly lấy làm ngờ, như: Khổng Tử đến yết kiến nàng Nam Tử; Khổng Tử bị hết lương ăn ở nước Trần; Công Sơn triệu, Phật Hất triệu, Khổng Tử đều muốn đến giúp. … Về Hàn Dũ, Quý Ly cho là “đạo nho” ; còn các người hiền như Chu Mậu Thúc, hai họ Trình, Dương Quy Sơn, La Trọng Tố, Lý Diên Bình và Chu Tử, thì Quý Ly cho là học rộng mà ý nghĩ viễn vông, không sát với tình hình sự việc, chỉ chăm bề cắp nhặt. Mười bốn thiên Minh Đạo dâng lên, Thượng hoàng ban tờ chiếu khen ngợi và phủ dụ. Đoàn Xuân Lôi dâng thư nói: “Không nên như thế”. Vì thế, phải phát vãng đi cận châu. Án từ việc này liên can đến Sư Tích, vì Sư Tích đã thường xem đến bức thư ấy, do đấy, Sư Tích cũng bị giáng truất.”
Về sau ông được phục chức, làm đến Trung thư hoàng môn thị lang, kiêmThông phán ở Ái Châu, ít lâu ông bệnh, mất tại chức. Sau đem về Trâu Lỗ cát táng, mộ nay vẫn còn.
Văn chương, tư tưởng ông nức tiếng một thời. Năm 1397 Hồ Quý Ly ép Trần Thuận Tông rời đô vào Thanh Hóa gọi là Tây Đô. Khi Hồ Quý Ly đang chỉ huy xây thành, có nông dân bắt được một con sâu hình dạng giống lá cây, dâng lên vua. Triều đình cho điềm lành của kinh đô mới, đặt tên sâu ấy là con ngựa lá (diệp mã nhi). Nhân đó các danh sĩ đều làm phú chúc tụng. Đoàn Xuân Lôi được dịp, ông làm bài thơ phú “Diệp mã nhi” (con bọ ngựa) để đả kích Hồ Quý Ly. Bài phú của ông tuyệt diệu, chứa đựng nội dung đả kích sâu cay, lời rang rảng có nhiều câu kì lạ.
Hồ Quý Ly là một nhà cải cách có tài, trong một thời gian ngắn trị vì (1400-1407) ông đưa ra rất nhiều cải cách: soạn ra 14 thiên Minh đạo thể hiện các tư tưởng của ông, lần đầu tiên ở Việt Nam phát hành tiền giấy; ban hành các đồ đo lường (cân, thước, đấu, thưng) để làm chuẩn trong việc buôn bán; quy định các người đỗ thi Hương phải qua kỳ thi làm toán pháp mới được tiếp tục thi Hội; là vị vua Việt Nam đầu tiên quyết định dùng chữ Nôm để chấn hưng nền văn hóa dân tộc, cho dịch các kinh, thư, thi; quy định mỗi người không có quá 10 mẫu ruộng, số ruộng thừa phải nộp lại cho Nhà nước; tăng cường lực lượng quân sự để chuẩn bị cho chiến tranh. Tuy nhiên, tư tưởng đổi mới của Hồ Quý Ly và những cải cách của ông thực hiện quá dồn dập trong một thời gian ngắn, không đạt kết quả như mong đợi và gây ra sự phẫn nộ trong nhân dân; đặc biệt là với các sĩ phu trung thành với nhà Trần. Chính vì họ Hồ không được lòng dân nên khi quân Minh sang xâm lược, triều Hồ thất bại.
Làng Trâu Lỗ trước kia tên là làng Sổ. Các cụ trong làng lý giải tên làng là do quân Tống tàn phá coi như không còn làng – làng bị xóa sổ. Sau cuộc kháng Tống lần thứ nhất thắng lợi 981 làng mới tái lập lại và đặt tên là làng Sổ để ghi nhớ sự kiện bi thương. Thời làm quan trong tiều, Đoàn Xuân Lôi muốn làng mình giữ được truyền thống hiếu học, khoa bảng, truyền thống nho giáo (đạo Khổng Tử và Mạnh Tử), nên ông đã tâu với nhà vua xin đổi tên làng Sổ thành làng Trâu Lỗ vì nước Trâu và nước Lỗ là quê hương của đức Khổng Tử và Mạnh Tử. Được vua chuẩn y, tên làng Trâu Lỗ có từ đó cho tới ngày nay.
2. Diệp mã nhi phú
維大鈞之播物,賦么鉅之萬殊。
彼蠕蝡與薈蕞,紛動植之難俱。
荷葉上之馬兒,因假合而成軀。
覆葉而背兮,文有倫而有脊;仰葉而腹兮,綠非槁而非枯。
兩角圭尖,似剪桐而為戲;四蹄霜薄,類刻楮而成模。
具體而微,巉首昂而臆廣;寓形莫瓣,混枝綴而英敷。
蔽芾視之而不見,肖翹乍有而乍無。
謂為抱葉之蟬,而嘒鳴之匪匹;譬則化莊之蝶,又腹背而非徒。
豈蕉鹿之荒說,曷茅麇之厚誣。
認天降葉身之瑞虫,而其狀有類乎龍駒也。
想夫:
長林蕭颯,葉動千甲。
勁氣砥兮扶疏,剛風振兮騰踏。
非關御轡,孰騏驥之可拘;知幾春秋,笑蟪蛄之相狎。
飄梧桐而飛去,冀北群空;磨楊柳而相依,華陽息捷。
盍歸禮義之大閑,誓委輕微而報答。
爾乃:
昔遯荒野,今來洞天。
辭草木之俱腐,矜畜養之大恩。
棲蹤乎瓊枝之上,息影於珠簾之前。
夕飲木蘭之甘露,朝餐紫府之祥煙。
一顧而價增百倍,親指而如著先鞭。
竊觀夫化工肖形之巧妙,而知夫賢相造化之大全。
嗟夫!
人之有常,時登至治。
既保合於太和,宜諸福之畢至。
天降斯虫,豈無深意。
馬如厥狀,視君子之得與;葉作其身,見蒼生之大庇。
且:
馬者龍也,符開地之無疆;葉者茂也,兆本支之百世。
矧斯虫也:產於金甌之上,曜於洞天之地。
適當靈臺經始之初,出應洛邑宅中之際。
微物遭逢,億年關係。
駑材何幸,睹斯休美。
感腐木之再生,苛識道之不鄙。
叨鳳池金馬之榮,造閬苑蓬壼之秘。
顧雕虫刻篆之匪工,賦得賢為上瑞。
Tham khảo: Đại Việt Sử Ký Bản Kỷ Toàn Thư
Bùi Thế Tâm soạn ngày 23/5/2009 đăng trên hiephoa.net
&2
DIỆP MÃ NHI PHÚ (Bản dịch nghĩa đề xuất của ChatGPT)
Phú con ngựa lá
Xét Đấng Đại Quân vận hành tạo hóa, ban cho muôn vật hình thể lớn nhỏ, muôn hình vạn trạng khác nhau.
Kia những loài nhỏ bé bò lúc nhúc, cùng cỏ cây um tùm, muôn giống động vật và thực vật thật khó kể cho hết. Có một con vật tựa ngựa ở trên lá sen, nhờ sự hòa hợp của tạo hóa mà thành hình.
Khi úp mặt lá xuống làm lưng thì thân có đường vân ngay ngắn, lại có sống lưng; khi ngửa mặt lá lên làm bụng thì sắc xanh tươi, chẳng phải khô héo mà cũng chẳng phải úa tàn.
Hai sừng nhọn như ngọc khuê, tựa như cắt lá ngô đồng làm trò chơi; bốn vó mỏng trắng như sương, giống như được khắc trên gỗ cây chử mà thành khuôn.
Hình thể tuy đầy đủ mà thu nhỏ; đầu nhọn cao vươn, ngực rộng. Hình dạng ẩn trong cành lá, khó phân biệt, hòa lẫn với cành nhánh và những đóa hoa đang khoe sắc.
Cành lá rậm rạp che khuất nên nhìn qua chẳng thấy; dáng hình nhỏ bé ấy chợt hiện ra rồi lại chợt biến mất.
Thấy nó ôm lấy chiếc lá, có người bảo là ve, nhưng tiếng kêu ríu rít lại chẳng giống. Ví như con bướm mà Trang Chu từng hóa thành trong giấc mộng, thì hình thể trước sau của nó cũng lại chẳng phải như thế.
Há chẳng phải chuyện con hươu và chiếc lá chuối trong lời hoang đường, cũng chẳng phải chuyện con hoẵng ẩn trong bụi cỏ mà người đời thêu dệt quá đáng.
Ta nhận rằng đây là một loài côn trùng điềm lành do trời ban xuống, mà hình dáng của nó lại có phần giống một con long câu — con ngựa quý mang hình rồng.
Nghĩ rằng:
Rừng cây dài xào xạc, lá lay động như nghìn lớp áo giáp.
Khí thế mạnh mẽ, cành lá tuy thưa mà vươn dài; gió cứng rung chuyển, vó ngựa như tung lên, đạp bước giữa trời.
Chẳng phải nhờ dây cương điều khiển, thì tuấn mã nào có thể bị trói buộc? Biết rõ bao phen xuân thu biến đổi, lại cười loài ve ngắn ngủi chỉ biết vui đùa trong chốc lát.
Bay theo lá ngô đồng mà đi, khiến cả đàn ngựa đất Ký Bắc trở nên vắng bóng; nương vào cành dương liễu mà cùng tựa, khiến ngựa Hoa Dương cũng phải thôi phô trương sức chạy.
Sao không trở về với khuôn phép lớn của lễ nghĩa, thề đem thân phận nhỏ bé này mà dốc lòng báo đáp?
Bấy giờ:
Xưa kia lánh mình nơi đồng hoang, nay được đến chốn động thiên.
Từ biệt cỏ cây vốn cùng chung số phận mục nát, cảm kích trước ân lớn của người nuôi dưỡng.
Nương dấu trên cành ngọc quý, nghỉ bóng trước rèm châu.
Chiều uống giọt sương ngọt của hoa mộc lan, sáng sớm ăn làn khói lành nơi Tử phủ.
Chỉ một lần được nhìn đến mà giá trị đã tăng gấp trăm lần; được người thân tay chỉ đến, chẳng khác nào đã được đặt lên trước, dẫn đầu đoàn quân.
Trộm ngắm cái tài khéo của Hóa công trong việc tạo nên hình dáng muôn vật, mới hiểu được cái toàn vẹn lớn lao của bậc hiền tướng trong việc làm nên công cuộc trị hóa.
Than ôi!
Con người có khuôn phép thường hằng, gặp thời thì bước vào thời đại cực thịnh.
Đã được bảo toàn và hòa hợp trong thái hòa, thì lẽ ra mọi phúc lành đều phải cùng đến.
Trời giáng loài côn trùng này xuống, há lại không có ý nghĩa sâu xa?
Hình nó giống ngựa, cho thấy người quân tử gặp được thời cơ mà thành đạt; thân nó mang hình chiếc lá, cho thấy muôn dân được che chở lớn lao.
Hơn nữa:
Ngựa là rồng, là điềm báo đất đai mở mang vô cùng; lá là sự tươi tốt, là điềm báo dòng dõi, cơ nghiệp sẽ truyền nối trăm đời.
Huống chi loài côn trùng này sinh ra trên đất Kim Âu, tỏa sáng nơi miền động thiên.
Nó vừa đúng lúc nền Linh Đài bắt đầu được dựng nên, lại xuất hiện ứng với thời khắc đất Lạc Ấp đang dựng nhà, lập nền.
Một vật nhỏ bé mà gặp được cơ duyên như vậy, mối quan hệ với vận hội lớn lao sẽ còn kéo dài đến muôn triệu năm.
Kẻ tài hèn như ta còn may mắn biết bao khi được chứng kiến điềm lành tốt đẹp này.
Cảm động trước cây gỗ mục mà nay lại được sống lại; càng hiểu rằng đạo lý lớn lao không hề khinh rẻ một vật nhỏ bé.
Được dự vào vẻ vinh quang của Phượng Trì, Kim Mã; được bước vào chốn bí mật của Lãng Uyển, Bồng Hồ.
Nghĩ đến tài chạm trổ, khắc chữ của mình vốn chẳng đáng kể, nay làm được bài phú này, chỉ để nói rằng:
Được người hiền mới chính là điềm lành cao quý nhất.
&3
Có ba chỗ đặc biệt đáng chú ý:
1. “Trời giáng loài côn trùng này xuống, há lại không có ý nghĩa sâu xa.”
天降斯虫,豈無深意
Bề ngoài là câu tụng điềm trời. Nhưng trong hoàn cảnh Hồ Quý Ly đang tìm sự “chính danh” cho Tây Đô, câu hỏi “há lại không có ý sâu xa?” cũng có thể khiến người đọc phải tự hỏi: ý trời thực sự là gì?
2. “Ngựa là rồng… Lá là tươi tốt…”
Đoạn này liên tiếp nâng một con sâu nhỏ thành những biểu tượng cực lớn: rồng, mở đất, trăm đời, vận nước. Chính sự khuếch đại đến mức gần như phi lý là một phương tiện rất đắt để tạo chất trào phúng.
3. Câu kết là chìa khóa của toàn bài:
賦得賢為上瑞
Không phải con “diệp mã” là điềm lành cao nhất, mà là “hiền” — người hiền — mới là thượng瑞, điềm lành lớn nhất.
Bài có bổ sung đăng trên hiephoanet.com ngày 6/10/2026




Trả lời