Nhằm chuẩn bị phục vụ Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIII ( Nhiệm kỳ 2015-2020) Ban biên tập Hiephoa.net đăng toàn văn dự thảo Báo cáo chính trị để cán bộ, nhân dân tham gia đóng góp; Tài liệu do Ban tuyên giáo Huyện ủy Hiệp Hòa chuyển tới Ban biên tâp. Mọi tham gia đóng đề nghị gửi về địa chỉ gmail: phuongvphuhh@gmail.com; Nếu tham gia đóng góp bằng bản giấy đề nghị gửi về đồng chí: Nguyễn Ngọc Phương Phó chánh Văn phòng Huyện ủy huyện Hiệp hòa- tỉnh Bắc Giang.
|
ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG HUYỆN ỦY HIỆP HÒA * Số -BC/HU DỰ THẢO |
|
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Hiệp Hòa, ngày tháng 4 năm 2015
|
BÁO CÁO CHÍNH TRỊ
của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XXII trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXIII
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ; phát huy truyền thống văn hiến, cách mạng; đoàn kết, đổi mới, sáng tạo; xây dựng Hiệp Hoà thành Trung tâm phát triển phía Tây tỉnh Bắc Giang
Phần thứ nhất
ĐÁNH GIÁ 5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ HUYỆN LẦN THỨ XXII
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Hiệp Hòa đã khai thác mọi nguồn lực và lợi thế của huyện, phát huy tinh thần đoàn kết, truyền thống quê hương cách mạng, khắc phục khó khăn hoàn thành khá toàn diện các mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXII đề ra.
A- KẾT QUẢ, THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC
I- Lãnh đạo phát triển kinh tế có trọng tâm, trọng điểm. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân 15,6 %/năm, vượt mục tiêu Đại hội (MTĐH), trong đó: nông – lâm nghiệp và thủy sản tăng 6%/năm; công nghiệp – xây dựng tăng 28,7%/năm; thương mại – dịch vụ tăng 19%/năm. Cơ cấu giá trị sản xuất chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng nông – lâm, thủy sản chiếm 39% (đạt MTĐH); công nghiệp – xây dựng chiếm 37% (vượt 7% MTĐH); dịch vụ chiếm 24% (chưa đạt MTĐH) ([1]) .
1- Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh. Giá trị sản xuất công nghiệp – TTCN tăng trưởng bình quân 30%/năm; ước thực hiện năm 2015 đạt 1.310 tỷ đồng (giá so sánh 2010), tăng 7% MTĐH. Lao động trong lĩnh vực công nghiệp – TTCN và ngành nghề nông thôn tăng 1,61 lần so với năm 2010 (tăng 11,1% MTĐH).
Các cấp ủy, chính quyền tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường thu hút đầu tư, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, hộ gia đình triển khai các dự án đầu tư vào địa bàn và mở rộng sản xuất. Hoàn thành quy hoạch chi tiết xây dựng các cụm công nghiệp Hợp Thịnh, Đoan Bái; Khu công nghiệp Châu Minh – Mai Đình, Làng nghề Mai Hương, Bến xe khách phía Nam, Chợ huyện, quy hoạch nông thôn mới của 23 xã. Có 279 doanh nghiệp đăng ký hoạt động, tăng 1,6 lần so với thời điểm năm 2010, tăng 1,09 lần MTĐH. Thu hút được nhiều dự án mới với số vốn đăng ký hàng ngàn tỷ đồng([2]). Tiểu thủ công nghiệp và một số ngành nghề nông thôn như cơ khí, đồ mộc, đồ dùng nhôm kính… phát triển mạnh. Thực hiện triệt để xóa bỏ lò gạch thủ công (663 lò) theo chủ trương thay thế gạch đất nung bằng vật liệu xây không nung.
2- Nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới đạt được nhiều kết quả nổi bật
Xác định nông nghiệp là lĩnh vực quan trọng trong phát triển kinh tế, huyện đã tập trung xây dựng, triển khai thực hiện chương trình phát triển nông nghiệp hàng hóa gắn với xây dựng nông thôn mới với nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ nông dân….; chú trọng chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng chăn nuôi([3]); xây dựng cơ chế hỗ trợ và tích cực thực hiện dồn điền, đổi thửa, xây dựng vùng sản xuất chuyên canh, cánh đồng mẫu lớn gắn với chuyển giao, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, hỗ trợ mở rộng sản xuất lúa lai, lúa chất lượng; xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu hàng hóa và bước đầu đã gắn kết với một số doanh nghiệp để bao tiêu sản phẩm cho ngành nông nghiệp.
Tập trung cao chỉ đạo 18 thôn của 13 xã triển khai thực hiện “dồn điền đổi thửa” với tổng điện tích trên 950ha và là một trong hai huyện có diện tích dồn điền, đổi thửa lớn nhất tỉnh Bắc Giang; gắn dồn điền, đổi thửa với quy hoạch xây dựng 18 cánh đồng mẫu lớn, trong đó 13 cánh đồng sản xuất lúa lai, lúa chất lượng, lúa giống, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so các giống lúa truyền thống từ 10-12%. Đã hình thành vùng sản xuất chuyên canh và xây dựng nhãn hiệu hàng hóa: rau cần Hoàng Lương, bưởi Diễn Lương Phong, nếp cái Hoa Vàng Thái Sơn… cho hiệu quả kinh tế cao.
Tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân năm đạt 6%, đạt MTĐH. Giá trị sản xuất bình quân đạt 70 triệu đồng/ha, đạt MTĐH. Tổng diện tích gieo trồng và sản lượng lương thực hằng năm đều đạt và vượt kế hoạch và MTĐH. Năng suất cây trồng đều tăng, trong đó năng suất lúa bình quân đạt 56,4tạ/ha (năm 2010 là 53 tạ/ha), tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2014 đạt 97.560 tấn (tăng 2,4% so với năm 2010). Tập trung phát triển và mở rộng diện tích lúa lai, lúa chất lượng, năm 2014 là 3.800 ha, vượt mục tiêu đại hội 27%, tăng hơn năm 2010 là 2.800ha.
Chăn nuôi tiếp tục phát triển theo quy mô trang trại, gia trại. Toàn huyện có 102 trang trại, trên 440 gia trại chăn nuôi lợn, gia cầm. Sản lượng thịt hơi các loại 28.000 tấn, tăng 14,3% so với MTĐH([4]). Tổng diện tích thuỷ sản 1.067 ha, sản lượng ước 3.200 tấn, tăng 7% so với MTĐH.
Cùng với việc chú trọng phát triển sản xuất nông nghiệp, huyện đã chủ động triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới; cụ thể hóa 19 tiêu chí của Trung ương thành 16 tiêu chí để xây dựng “thôn nông thôn mới”. Sau gần 4 năm triển khai xây dựng nông thôn mới, tổng kinh phí đầu tư xây dựng khoảng 282 tỷ đồng, trong đó ngân sách Nhà nước 138 tỷ đồng; huy động của các tổ chức, doanh nghiệp 14,1 tỷ đồng; nhân dân đóng góp 129,9 tỷ đồng; số tiêu chí đạt chuẩn bình quân của các xã từ 7,1 tiêu chí năm 2011, tăng lên đạt bình quân 11,7 tiêu chí năm 2014, riêng 05 xã điểm tăng từ 7,6 tiêu chí/xã năm 2011 lên 16,2 tiêu chí/xã năm 2014. Năm 2014, xã Đoan Bái được UBND tỉnh công nhận đạt chuẩn xã NTM; UBND huyện công nhận 18 thôn đạt chuẩn thôn NTM. Mô hình “Thôn NTM” của huyện được Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM tỉnh lựa chọn nhân rộng trên phạm vi toàn tỉnh.
3- Thương mại, dịch vụ phát triển đa dạng. Tốc độ tăng trưởng bình quân 19%/năm, đạt MTĐH. Một số cơ sở bán hàng theo phương thức hiện đại hoạt động mạnh trên địa bàn; hiệu quả hoạt động quản lý thị trường, chống buôn lậu và gian lận thương mại nâng lên. Dịch vụ vận tải, viễn thông, truyền hình phát triển nhanh, tỷ lệ người dân được sử dụng dịch vụ điện thoại tăng nhanh, bình quân 62,1 máy/100 dân; có 5.495 thuê bao Internet, bình quân 2,39 thuê bao/100 dân. Đã hình thành các tuyến xe bus trên các tuyến giao thông chính, tạo thuận lợi cho việc đi lại của nhân dân. Chất lượng dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm có tiến bộ; trên địa bàn huyện có 04 ngân hàng thương mại, dư nợ của hệ thống ngân hàng tăng trưởng bình quân 35% năm. Hệ thống chợ nông thôn, các đại lý bán lẻ ở khu vực thị trấn, thị tứ được quan tâm quy hoạch và đầu tư xây dựng. Đến nay toàn huyện có 17 chợ và trên 5000 hộ kinh doanh thương mại dịch vụ.
4- Tích cực khai thác các nguồn thu, sử dụng hiệu quả các khoản chi ngân sách. Tập trung chỉ đạo triển khai nhiều giải pháp quản lý và khai thác các nguồn thu có hiệu quả, hằng năm đều đạt và vượt mức kế hoạch tỉnh giao. Tổng thu ngân sách trên địa bàn giai đoạn 2010 -2015 (không tính thu tiền sử dụng đất) bình quân đạt 50,86 tỷ đồng/năm, tăng 60,5% so với năm 2010, tăng bình quân 11,5%/năm. Chi ngân sách sát dự toán, đúng chế độ, bảo đảm công khai, minh bạch, cơ bản đáp ứng nhiệm vụ chính trị của địa phương; tổng chi ngân sách bình quân đạt 507,316 tỷ đồng/năm, trong đó chi đầu tư phát triển bình quân đạt 65,06 tỷ đồng/năm, chiếm 11,3% tổng chi ngân sách bình quân hàng năm.
5- Huy động các nguồn lực, tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế– xã hội. Tập trung lãnh đạo phát huy nội lực, tranh thủ sự giúp đỡ của Trung ương, của Tỉnh và huy động các nguồn vốn khác để đầu tư xây dựng, nâng cấp hạ tầng kinh tế- xã hội, nhất là hạ tầng nông thôn, đặc biệt các xã ATK II.
Trong hơn 04 năm thực hiện xây dựng, cải tạo 30 tuyến đường với tổng chiều dài trên 76km, tăng 180% MTĐH; cứng hóa 168 tuyến đường giao thông nông thôn với tổng chiều dài trên 195 km tăng 52,4% MTĐH. Đến nay, hệ thống đường tỉnh, đường huyện, đường liên xã cơ bản đã được nâng cấp mới, đặc biệt hoàn thành xây dựng cầu Đông Xuyên – Mai Đình và cầu treo Hà Châu phục vụ thu hút đầu tư và đáp ứng nhu cầu đi lại thuận lợi cho nhân dân; Bến xe khách phía Nam, Khu xử lý rác của huyện và một số xã được quy hoạch và tiến hành đầu tư xây dựng. Hệ thống công trình thuỷ lợi cơ bản được nâng cấp đáp ứng nhu cầu tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp và phòng chống lụt bão; chủ động tu bổ, nâng cấp hệ thống đê bối bảo đảm chống úng cho vùng hạ huyện; đã xây dựng, cải tạo 58 tuyến kênh mương nội đồng với tổng chiều dài trên 29 km, đạt 57,8% MTĐH. Hệ thống điện được nâng cấp, củng cố khá toàn diện; việc chuyển giao lưới điện, đầu tư xây dựng các trạm biến thế mới, sản lượng điện hằng năm tăng nhanh.
Tập trung đầu tư nâng cấp hạ tầng đô thị, năm 2012, thị trấn Thắng được Bộ Xây dựng công nhận đạt tiêu chí đô thị loại IV; thực hiện quy hoạch chi tiết thị trấn Bách Nhẫn, thị trấn Phố Hoa. Trụ sở làm việc của Huyện ủy, UBND huyện được đầu tư xây mới; trụ sở một số xã, cơ quan được quan tâm đầu tư xây dựng khang trang hơn. Thực hiện chuyển đổi mô hình quản lý, kinh doanh, khai thác Chợ huyện theo quy định của pháp luật.
6- Lĩnh vực tài nguyên và môi trường có nhiều chuyển biến tích cực
Cấp ủy, chính quyền từ huyện đến cơ sở đã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý đất đai, tài nguyên, môi trường. Đã triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất đầu kỳ của 23 xã. Tiến hành thống kê, kiểm kê đất đai hàng năm và 5 năm theo đúng quy định làm cơ sở xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Triển khai đo mới bản đồ địa chính 14 xã, đo chỉnh lý 11 xã, thị trấn; xây dựng và tích hợp cơ sở dữ liệu đất đai của huyện để quản lý được chặt chẽ. Công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất được thực hiện theo đúng quy định. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch giao([5]). Tăng cường công tác kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật Đất đai; khai thác đất, khoáng sản trái phép trên địa bàn huyện.
Công tác quản lý và bảo vệ môi trường luôn được coi trọng. Đã thực hiện tốt việc phối hợp thẩm định, đánh giá tác động của môi trường và thường xuyên kiểm tra việc thực hiện cam kết bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Xây dựng bãi rác thải của huyện; hỗ trợ 19 xã xây dựng bãi rác thải, 15 thôn xây dựng lò đốt rác và 213 xe đẩy thu gom rác thải cho các xã. Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường; nhân dân đã tự nguyện thành lập 147 đội tự quản về bảo vệ môi trường; đã ứng dụng các chế phẩm sinh học trong chăn nuôi để giảm ô nhiễm môi trường.
II- Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ
1- Giáo dục, đào tạo đạt một số thành tựu quan trọng, dạy nghề, khoa học- công nghệ tiếp tục được quan tâm. Quy mô trường, lớp học tiếp tục phát triển, đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân([6]). Tiếp tục huy động các nguồn lực và ưu tiên đầu tư kiên cố hóa trường, lớp học, xây dựng trường học đạt chuẩn Quốc gia; đã huy động được trên 80 tỷ đồng, đầu tư xây dựng mới 180 phòng, nâng tỷ lệ phòng học kiên cố bậc Mầm non từ 40% (năm 2010) lên 60%, vượt 10% MTĐH, bậc Tiểu học và THCS đạt MTĐH; toàn huyện có 67 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 69,8%, tăng 8 trường so năm 2010, tăng 2,1% MTĐH.
Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý có trình độ đào tạo đạt chuẩn và trên chuẩn đều tăng so với năm 2010, trong đó: 78,68% giáo viên, 96% cán bộ quản lý có trình độ đào tạo trên chuẩn; trên 50% cán bộ, giáo viên sử dụng thành thạo công nghệ thông tin.
Chất lượng giáo dục toàn diện và giáo dục mũi nhọn có nhiều chuyển biến tích cực. Hoàn thành chuẩn phổ cập giáo dục Mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2. Học sinh xếp loại hạnh kiểm khá, tốt đạt trên 90%; tỷ lệ học sinh khá, giỏi hằng năm đều tăng. Tỷ lệ tốt nghiệp THCS đạt 97%, THPT đạt 99,8%. Kết quả thi học sinh giỏi quốc gia, học sinh giỏi cấp tỉnh tăng hằng năm, là huyện có thành tích cao trong bồi dưỡng học sinh giỏi so với các huyện, thành phố. Ngành giáo dục và đào tạo của huyện xếp ở tốp đầu trong phong trào thi đua 10 huyện, thành phố.
Công tác xã hội hoá giáo dục được quan tâm chỉ đạo và nhận được sự đồng tình, tham gia đóng góp của nhiều tổ chức, cá nhân và các bậc phụ huynh học sinh; phong trào “gia đình hiếu học, dòng họ khuyến học” được nhân rộng, 100% số xã, thị trấn có Hội Khuyến học và nhiều dòng họ có Quỹ Khuyến học. Giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục thường xuyên và dạy nghề được chú trọng. Hằng năm, luôn hoàn thành kế hoạch đào tạo nghề, nhất là đào tạo nghề cho lao động nông thôn; nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 30% (năm 2010), lên 45%, đạt MTĐH.
Các hoạt động quản lý nhà nước về khoa học – công nghệ đã tập trung vào công tác tư vấn, khuyến khích các cơ quan, doanh nghiệp xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001: 2008, bảo hộ sở hữu trí tuệ, xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, thúc đẩy hội nhập quốc tế.
2- Công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân; dân số – kế hoạch hóa gia đình và trẻ em có nhiều chuyển biến tích cực. Đã tập trung huy động các nguồn lực để đầu tư nâng cấp các cơ sở y tế, từng bước cải thiện, nâng cao các điều kiện khám chữa bệnh phục vụ nhân dân. Toàn huyện hiện có 01 bệnh viện đa khoa, 01 trung tâm у tế, 03 phòng khám đa khoa, 54 phòng khám tư nhân, 34 phòng chẩn trị YHCT…; 19/26 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về у tế, đạt 77% (vượt 28% MTĐH); các trạm у tế xã đều có bác sỹ phục vụ khám, chữa bệnh, đạt 6,7 bác sỹ/vạn dân (tăng 1,7 bác sỹ so với năm 2010). Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 60%; giường bệnh đạt 14,1 giường/1 vạn dân. Công tác у tế dự phòng được chú trọng, tỷ lệ mắc các bệnh truyền nhiễm giảm rõ rệt. Chất lượng khám, chữa bệnh, tinh thần thái độ phục vụ người bệnh có chuyển biến; các hoạt động khám, chữa bệnh cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và các đối tượng chính sách xã hội được quan tâm; tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên còn 1,3 %; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm từ 18,5% năm 2010 xuống còn 13% năm 2015, đạt MTĐH.
3- Lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể thao tiếp tục phát triển, đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân được nâng lên. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” được triển khai thực hiện gắn với Phong trào xây dựng nông thôn mới đã tạo khí thế thi đua trong các tầng lớp nhân dân. Năm 2014, toàn huyện có 86,89% gia đình văn hoá; 69,4% làng, thôn, khu phố văn hóa (vượt 9,4% MTĐH); 88% cơ quan văn hoá (tăng 8% MTĐH).
Việc bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá tiếp tục được quan tâm thực hiện([7]). Công tác giáo dục truyền thống được chú trọng, thông qua việc giảng dạy lịch sử địa phương trong các trường học, tổ chức tham quan các di tích lịch sử văn hóa, các lễ hội truyền thống… Công tác quản lý nhà nước về thông tin và truyền thông được tăng cường; tỷ lệ phủ sóng phát thanh, tuyền thanh đạt 100%. Đã triển khai khá tốt việc ứng dụng công nghệ thông tin vào cải cách hành chính và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị của nhà nước.
Phong trào thể dục, thể thao quần chúng phát triển mạnh mẽ và đạt nhiều thành tích; toàn huyện có 28,5% dân số thường xuyên luyện tập thể dục thể thao, tăng 2,5% so với năm 2010; 14,5% gia đình thể thao; đến nay có 179/229 thôn, khu phố có nhà văn hóa, chiếm tỷ lệ 78,1%, 28 nhà luyện tập, thi đấu thể thao; 156 nhà văn hóa độc lập; việc đầu tư, xây dựng, xã hội hóa thể dục thể thao được phát huy; từng bước đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, vui chơi, giải trí, tập luyện thể thao của nhân dân. Tại Đại hội TDTT toàn tỉnh lần thứ VII, huyện Hiệp Hòa xếp thứ 4/10 huyện, thành phố.
4- Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, giải quyết việc làm; tỷ lệ hộ nghèo giảm, đời sống nhân dân được nâng cao. Công tác đảm bảo an sinh xã hội tiếp tục được các cấp ủy, chính quyền quan tâm chỉ đạo thực hiện. Thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; chi trả kịp thời các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho các đối tượng trên địa bàn. Nhân dân đã hưởng ứng, tích cực tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo từ thiện, chăm sóc người có công, giúp đỡ hộ nghèo, hộ cận nghèo. Hằng năm đã huy động hàng tỷ đồng giúp đỡ người nghèo, các đối tượng khó khăn([8]). Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm được chú trọng, sau 5 năm đã tạo việc làm mới cho trên 15 nghìn lao động, vượt MTĐH; xuất khẩu lao động 508 người, đạt 127 % MTĐH; tỷ lệ hộ nghèo năm 2014 còn 4,93%, bình quân hàng năm giảm từ 1-1,5%, đạt MTĐH.
III- Thực hiện tốt công tác nội chính, cải cách tư pháp, phòng chống tham nhũng, lãng phí
1- Thực hiện hiệu quả công tác quốc phòng, quân sự địa phương; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Triển khai thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về nhiệm vụ quốc phòng-an ninh. Quan tâm bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân; kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Hoàn thành 100% chỉ tiêu tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ, động viên quân nhân dự bị, đào tạo cán bộ hằng năm. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, đạt tỷ lệ 1,25% so với dân số. Thực hiện tốt nhiệm vụ huấn luyện, diễn tập phòng chống lụt bão, diễn tập chiến đấu trị an. Thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, người có công theo quyết định số 62, 142/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cho 9334 đối tượng với số tiền trên 33 tỷ đồng. Thường xuyên nắm chắc tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, kịp thời xử lý các tình huống đột xuất về an ninh chính trị, không để xảy ra điểm nóng. Tích cực phòng ngừa và đấu tranh với các loại tội phạm, bài trừ các tệ nạn xã hội. Tăng cường quản lý nhà nước về an ninh trật tự; trật tự an toàn giao thông, tai nạn giao thông giảm cả 3 tiêu chí. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được đẩy mạnh, có bước phát triển mới với nhiều nội dung, hình thức đa dạng, hiệu quả, khơi dạy sức mạnh toàn dân trong công tác bảo đảm an ninh trật tự.
2- Công tác cải cách tư pháp được tích cực triển khai thực hiện. Tiếp tục thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá X) về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; công tác tư pháp có nhiều đổi mới, chuyển biến tiến bộ. Các cấp uỷ đảng tăng cường sự lãnh đạo đối với các cơ quan tư pháp; bảo đảm hoạt động tư pháp thực hiện đúng quan điểm, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; chất lượng, hiệu quả của hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án dân sự có bước chuyển biến tích cực, xử lý đúng người đúng tội, đúng pháp luật, đảm bảo quyền lợi của tổ chức, cá nhân. Đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất, phương tiện làm việc của các cơ quan tư pháp được tăng cường, điều kiện làm việc ngày càng được cải thiện.
3- Công tác giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo đạt kết quả tích cực. Quán triệt và ban hành kịp thời các văn bản chỉ đạo nhằm tiếp tục tăng cường công tác tiếp dân, công tác giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện. Sự quan tâm và trực tiếp tiếp công dân của Thường trực Huyện ủy, lãnh đạo UBND huyện đã góp phần giải quyết kịp thời các bức xúc của nhân dân, đặc biệt là đối với các vụ khiếu nại phức tạp, tồn đọng kéo dài. Công tác tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn công dân chấp hành và thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo theo quy định pháp luật đạt nhiều kết quả; các cấp chính quyền tăng cường đối thoại trực tiếp, tập trung giải quyết các vấn đề bức xúc, công khai kết quả giải quyết với công dân; nhiều trường hợp sau khi được giải thích, công dân đã tự nguyện rút đơn khiếu kiện; số lượng đơn thư tiếp nhận mới giảm([9]).
4- Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí thường xuyên được quan tâm. Chỉ đạo thực hiện nghiêm Nghị quyết Trung ương 3 (khoá X), Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Kết luận số 21-KL/TW của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Các cơ quan, đơn vị tiếp tục thực hiện tốt việc công khai, minh bạch trong hoạt động, nhất là trong các lĩnh vực nhạy cảm, có nguy cơ phát sinh tham nhũng như: mua sắm tài sản công; phân bổ vốn đầu tư; quy hoạch sử dụng đất; trình tự, thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…Tích cực chỉ đạo thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị. Đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp. Thực hiện nghiêm túc việc kê khai tài sản, thu nhập đối với cán bộ, công chức theo quy định.
IV- Chính quyền các cấp được củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động; đẩy mạnh cải cách hành chính
Hoạt động của HĐND các cấp có đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả. Việc chuẩn bị cho kỳ họp, tiếp xúc cử tri, thông tin tuyên truyền trước, trong, sau kỳ họp được tăng cường. Công tác điều hành trong các kỳ họp được đổi mới theo hướng giảm thời gian đọc báo cáo trên hội trường, dành nhiều thời gian cho đại biểu thảo luận, làm sáng tỏ các vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau, tạo sự đồng thuận cao trong xây dựng và nâng cao chất lượng ban hành nghị quyết của HĐND. Nội dung bàn, quyết định những vấn đề lớn, bức xúc ở địa phương; giải quyết, trả lời đầy đủ, công khai, dân chủ những ý kiến, kiến nghị của cử tri.
Hiệu quả quản lý, điều hành của UBND các cấp ngày càng được nâng lên. Duy trì thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc, quy chế phối hợp giữa UBND với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội; đổi mới lề lối làm việc, quản lý, điều hành; nâng cao ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức. Thực hiện nghiêm túc việc đánh giá, xếp loại trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị trực thuộc UBND huyện và chủ tịch UBND các xã, thị trấn trong thi hành công vụ.
Đẩy mạnh cải cách hành chính, rà soát, sửa đổi, bổ sung, loại bỏ những thủ tục hành chính rườm rà, không còn phù hợp; nâng cao chất lượng cơ chế một cửa, một cửa liên thông. Tích cực đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ từ huyện đến cơ sở. Ý thức, trách nhiệm phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức đã có chuyển biến tiến bộ.
V- Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác dân vận, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
Chỉ đạo các cấp, các ngành quán triệt và triển khai thực hiện kịp thời các nghị quyết, chỉ thị về công tác dân vận gắn với thực hiện Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị. Tiếp tục chỉ đạo các cấp uỷ đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 59-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với công tác Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội trong giai đoạn hiện nay.
Tích cực tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở địa phương, đặc biệt là trong công tác giải phóng mặt bằng thực hiện các công trình, dự án trọng điểm của huyện; chủ động nắm tình hình, diễn biến tư tưởng nhân dân, tham gia giải quyết các vụ việc phức tạp phát sinh từ cơ sở. Tổ chức các phong trào thi đua, nhất là Phong trào thi đua “Dân vận khéo” và công tác dân vận tham gia xây dựng nông thôn mới đạt kết quả tích cực. Tập trung chỉ đạo thực hiện tốt quy chế dân chủ ở các loại hình cơ sở, tăng cường công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng các nội dung về quy chế dân chủ, nâng cao chất lượng hoạt động của ban thanh tra nhân dân và ban giám sát đầu tư cộng đồng.
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; tích cực triển khai các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước, xây dựng đời sống văn hoá, giữ gìn an ninh trật tự, phát triển kinh tế ở địa phương, cơ sở([10]). Tích cực tuyên truyền, vận động hội viên, đoàn viên, nhân dân nâng cao nhận thức và thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của địa phương. Chủ động nắm các vấn đề mâu thuẫn, bức xúc, để đề xuất với cấp ủy, chính quyền các biện pháp giải quyết. Quan tâm củng cố tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể các cấp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới; tỷ lệ thu hút, tập hợp đoàn viên, hội viên hàng năm đều tăng([11]).
Tình hình tôn giáo trên địa bàn cơ bản ổn định; đồng bào tôn giáo tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương, sống hoà thuận, đoàn kết trong cộng đồng dân cư; tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương; tổ chức các hoạt động theo đúng quy định của pháp luật.
VI- Công tác xây dựng Đảng có nhiều đổi mới, sáng tạo, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng được nâng lên
1- Công tác chính trị, tư tưởng đã có nhiều đổi mới và chuyển biến tích cực, chất lượng được nâng lên rõ rệt
Huyện ủy luôn quan tâm, xác định vị trí, vai trò, tầm quan trọng hàng đầu của công tác giáo dục, rèn luyện tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Ban Thường vụ đã xây dựng Kế hoạch số 11- KH/HU ngày 16/5/2011 để chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Đề án số 01-ĐA/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tư tưởng trong tình hình mới.
Huyện ủy, cấp ủy các cấp đã kịp thời, có sự đổi mới trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc nghiên cứu, quán triệt và cụ thể hóa các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, Tỉnh uỷ, Huyện uỷ đến các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và tuyên truyền tới nhân dân; tỷ lệ cán bộ tham gia học tập nghị quyết cao (đạt trên 97%); kịp thời sơ kết, tổng kết các chỉ thị, nghị quyết, các chương trình, kế hoạch, qua đó kiểm điểm, rút kinh nghiệm để chỉ đạo chặt chẽ, sâu sát hơn.
Công tác giáo dục lý luận chính trị được đổi mới về nội dung, phương pháp và hình thức; công tác đào tạo bồi dưỡng và tập huấn cán bộ đảm bảo theo kế hoạch. Công tác tuyên truyền, giáo dục lịch sử địa phương được đẩy mạnh; cuốn “Tài liệu giảng dạy lịch sử huyện Hiệp Hòa” dùng trong các nhà trường và Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị được triển khai có hiệu quả; 100% đảng ủy các xã, thị trấn đã hoàn thành việc xuất bản cuốn sách Lịch sử Đảng bộ.
Ban Thường vụ Huyện uỷ đã chỉ đạo các cấp uỷ đảng rà soát, kiện toàn đội ngũ báo cáo viên đảm bảo đủ tiêu chuẩn, có tín nhiệm, có trình độ tiếp thu và truyền đạt tốt những chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đồng thời có kế hoạch bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ để đội ngũ báo cáo viên cấp huyện và cơ sở làm tốt nhiệm vụ được giao. Công tác biên tập bản tin được đổi mới, nâng cao chất lượng. Tăng cường nắm bắt tình hình tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và tình hình dư luận xã hội để chủ động định hướng, có biện pháp xử lý kịp thời, đấu tranh ngăn chặn suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đối với cán bộ, đảng viên, nhất là đối với cán bộ, đảng viên thuộc diện Ban Thường vụ Huyện uỷ quản lý.
Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh từng bước trở thành công việc thường xuyên, quan trọng của các cấp uỷ đảng, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; đồng thời đã gắn với thực hiện có hiệu quả nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, coi đây là một trong những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng để thực hiện có kết quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Một số địa phương, đơn vị đã có những cách làm sáng tạo, hiệu quả, có nhiều tấm gương điển hình làm theo Bác trên các lĩnh vực, góp phần thúc đẩy việc thực hiện các nhiệm vụ ở địa phương, cơ quan, đơn vị.
2- Công tác tổ chức xây dựng đảng có nhiều đổi mới, nâng cao chất lượng
Huyện ủy tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng, năng lực lãnh đạo của chi bộ, vai trò tiền phong gương mẫu của đảng viên; chú trọng đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng tổ chức đảng TSVM và khắc phục những mặt hạn chế, yếu kém. Qua đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng hằng năm, các tổ chức cơ sở đảng đều xếp loại từ hoàn thành nhiệm vụ trở lên([12]); số lượng, chất lượng tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh từng bước được nâng cao.
Cấp uỷ các cấp trong đảng bộ đã tăng cường công tác quản lý và phân công công tác cho đảng viên. Chất lượng sinh hoạt chi bộ có chuyển biến tích cực; nội dung, hình thức sinh hoạt đã có bước đổi mới thiết thực, hiệu quả; định kỳ tổ chức sinh hoạt theo chuyên đề.
Công tác tạo nguồn kết nạp đảng viên được các cấp uỷ thường xuyên quan tâm. Trong đó, đã chú trọng phát triển đảng trong đội ngũ trưởng, phó thôn, công nhân trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước, học sinh trung học phổ thông. Trong nhiệm kỳ đã kết nạp được 1212 quần chúng ưu tú vào đảng, vượt MTĐH 12,12%.
Ban Thường vụ Huyện uỷ đã lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hoá các quy định của Đảng, Nhà nước về công tác cán bộ và ban hành các văn bản bảo đảm theo đúng các quy định, hướng dẫn của Trung ương, của tỉnh. Việc thực hiện các nội dung, các khâu trong công tác cán bộ đảm bảo nguyên tắc, tiêu chuẩn, quy trình quy định, đảm bảo Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ, trực tiếp quản lý đội ngũ cán bộ, đồng thời phát huy vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị.
– Công tác nhận xét, đánh giá cán bộ, đảng viên được quan tâm chỉ đạo thực hiện thường xuyên có nền nếp, đổi mới, thực hiện đúng quy trình, nghiêm túc, dân chủ. Hằng năm, trên cơ sở chỉ đạo, hướng dẫn cấp trên, Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo, tổ chức đánh giá cán bộ diện Ban Thường vụ Huyện ủy quản lý. Chỉ đạo UBND huyện thực hiện nghiêm việc đánh giá, xếp loại trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, đơn vị thuộc UBND huyện và chủ tịch UBND các xã, thị trấn trong thi hành công vụ. Qua đó, đã bước đầu phát huy được năng lực, sở trường của cán bộ; tạo cơ sở cho công tác tuyển chọn, xây dựng quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện các chế độ, chính sách đối với cán bộ.
– Công tác quy hoạch cán bộ thực hiện theo đúng quy trình và tiêu chuẩn quy định, chất lượng được nâng lên; cơ cấu hợp lý hơn, tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ đưa vào quy hoạch tăng; có sự đổi mới, kế thừa và phát triển; gắn quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý các cơ quan, đơn vị với quy hoạch nhân sự cấp ủy nhiệm kỳ tới; gắn quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ; quy hoạch cán bộ theo hướng vừa “động” vừa “mở”; định kỳ bổ sung, điều chỉnh đảm bảo nguồn cán bộ theo yêu cầu, nhiệm vụ.
– Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được chú trọng; quan tâm bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, xử lý tình huống cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý và cán bộ trẻ có triển vọng; cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa đạt trình độ theo tiêu chuẩn đều được bố trí cử đi học, từng bước nâng cao tỷ lệ cán bộ chủ chốt cơ sở có trình độ chuyên môn cao đẳng, đại học trở lên (hiện tại đạt 46,3%, tăng 41% so với đầu nhiệm kỳ, cơ bản đạt mục tiêu Đề án 02-ĐA/TU).
– Công tác bố trí, sử dụng, luân chuyển cán bộ hiện đúng nguyên tắc, quy trình, đảm bảo khách quan, dân chủ, đáp ứng nhu cầu cán bộ lãnh đạo quản lý của hệ thống chính trị; mạnh dạn đề bạt, bố trí cán bộ trẻ được đào tạo cơ bản, có khả năng phát triển vào cương vị lãnh đạo để cán bộ phát huy năng lực, sở trường công tác và tiếp tục bồi dưỡng giáo dục, rèn luyện cán bộ. Việc tuyển dụng công chức, viên chức thực hiện chặt chẽ, chất lượng cán bộ, công chức được nâng lên; công tác thi đua, khen thưởng và thực hiện chính sách đối với cán bộ được quan tâm thường xuyên.
– Các cấp ủy đã chú trọng thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, giải quyết kịp thời các vấn đề mới phát sinh; chỉ đạo xác minh, thẩm định chặt chẽ tiêu chuẩn chính trị phục vụ công tác cán bộ diện cấp uỷ quản lý và quần chúng xin vào Đảng, góp phần giữ vững tình hình chính trị trong Đảng bộ huyện.
3- Lãnh đạo, thực hiện toàn diện công tác kiểm tra, giám sát
Huyện uỷ đã chỉ đạo các tổ chức đảng, UBKT các cấp tăng cường công tác kiểm tra, giám sát theo quy định; nội dung kiểm tra, giám sát cơ bản toàn diện. Hằng năm, cấp ủy và UBKT từ huyện đến cơ sở đã xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát, từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; tập trung kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng có biểu hiện mất đoàn kết; chú trọng kiểm tra các tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm; quan tâm giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến cán bộ, đảng viên, chỉ đạo giải quyết dứt điểm ngay từ cơ sở, tránh tình trạng khiếu nại, tố cáo vượt cấp, khiếu kiện đông người, chú ý đến các đối tượng bị tố cáo là cấp uỷ viên, cán bộ thuộc diện cấp uỷ các cấp quản lý.
Cấp uỷ các cấp trong Đảng bộ huyện đã tiến hành kiểm tra 281 tổ chức đảng và 657 đảng viên, tăng 46 tổ chức, 490 đảng viên so với nhiệm kỳ trước. Giám sát theo chuyên đề đối với 137 tổ chức đảng và 479 đảng viên, giảm 11 tổ chức, tăng 212 đảng viên so với nhiệm kỳ trước.
UBKT các cấp kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 94 tổ chức đảng và 185 đảng viên, tăng 49 tổ chức, 40 đảng viên so với nhiệm kỳ trước. Kiểm tra 462 tổ chức đảng cấp dưới về thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát; kiểm tra việc thi hành kỷ luật trong Đảng đối với 321 tổ chức đảng; kiểm tra 356 tổ chức đảng về thu chi tài chính Đảng, 4215 đảng viên về thu nộp đảng phí. Giám sát chuyên đề đối với 165 tổ chức đảng, 175 đảng viên, tăng 52 tổ chức đảng, 48 đảng viên so với nhiệm kỳ trước. Giải quyết đơn tố cáo đối với 02 tổ chức, giảm 06 tổ chức đảng, 32 đảng viên so với nhiệm kỳ trước.
Cấp ủy, tổ chức đảng trong Đảng bộ huyện và UBKT Huyện ủy quyết định thi hành kỷ luật đối với 09 tổ chức đảng, 256 đảng viên, tăng 04 tổ chức đảng, 56 đảng viên so với nhiệm kỳ trước. Việc xử lý kỷ luật đảm bảo phương hướng, phương châm, nguyên tắc, thủ tục theo quy định và tương xứng với lỗi phạm.
4- Lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) đạt kết quả tích cực, đi vào nền nếp
Ngay sau khi nhận được các văn bản chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Huyện ủy đã ban hành kế hoạch; chỉ đạo các cơ quan tham mưu xây dựng các hướng dẫn thực hiện và tổ chức các hội nghị học tập, nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết bảo đảm nghiêm túc, có chất lượng; chỉ đạo cấp ủy cơ sở xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết một cách cụ thể, thiết thực, gắn với lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, đơn vị. Tổ chức và thực hiện các quy trình kiểm điểm tự phê bình và phê bình đối với tập thể và cá nhân các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy; đồng thời phân công các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, lãnh đạo và chuyên viên các Ban xây dựng Đảng dự chỉ đạo kiểm điểm tự phê bình và phê bình tại cơ sở.
Nhìn chung, công tác kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) được thực hiện nghiêm túc, cẩn trọng, chu đáo, chặt chẽ và khoa học. Trong quá trình kiểm điểm, các tổ chức, cá nhân đã thảo luận, góp ý dân chủ, đoàn kết, chân thành; hầu hết các vấn đề nổi cộm, bức xúc được đặt ra, phân tích cụ thể. Qua kiểm điểm, một số tổ chức đảng, cán bộ đảng viên vi phạm đã nghiêm túc tự nhận hình thức kỷ luật, góp phần ngăn chặn sự suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống của cán bộ đảng viên, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ, tạo niềm tin trong Đảng và sự đồng thuận của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
Sau kiểm điểm tự phê bình và phê bình, 100% cấp ủy cơ sở, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể huyện xây dựng kế hoạch khắc phục những khuyết điểm, hạn chế qua kiểm điểm tự phê bình và phê bình thực hiện Nghị quyết; Những vấn đề tập thể, cá nhân vi phạm khuyết điểm đến mức phải xem xét, xử lý kỷ luật, Ban Thường vụ Huyện ủy giao cho Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy xem xét làm rõ để tiến hành xử lý kỷ luật nghiêm minh([13]).
Bốn nhóm giải pháp theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) được cụ thể hóa và tập trung thực hiện; Ban Thường vụ Huyện ủy đề ra 10 nội dung cụ thể, rõ lộ trình, quy định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân. Đến nay, 07 việc cần làm ngay, trong đó 03 việc ở huyện, 04 việc ở xã và 10 nội dung khắc phục hạn chế, khuyết điểm sau kiểm điểm Ban Thường vụ Huyện ủy đề ra được thực hiện đạt kết quả tích cực, đi vào nền nếp.
5- Chú trọng đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ đảng
Huyện ủy và các cấp uỷ trong Đảng bộ huyện đã quan tâm đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng sâu sát cơ sở; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể, đề cao trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ.
Kịp thời xây dựng, rà soát, sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc; xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của tập thể cấp uỷ, thường trực cấp uỷ và cấp uỷ viên, mối quan hệ giữa cấp uỷ với các tổ chức trong hệ thống chính trị.
Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc ban hành và tổ chức thực hiện nghị quyết, gắn với xây dựng quy chế làm việc, tổ chức thực hiện chương trình công tác của cấp uỷ. Quan tâm nâng cao chất lượng hội nghị cấp uỷ; đề cao trách nhiệm của các cơ quan trong việc chuẩn bị nội dung trình hội nghị; phát huy trí tuệ của tập thể và từng cá nhân trong việc bàn, thảo luận, quyết định các chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo.
Duy trì nền nếp chế độ giao ban định kỳ trong Thường trực Huyện uỷ, giữa Thường trực Huyện uỷ với Thường trực HĐND, lãnh đạo UBND huyện, bí thư đảng uỷ các xã, thị trấn, lãnh đạo các ban xây dựng Đảng, MTTQ và các đoàn thể chính trị – xã hội huyện để nắm thông tin, tập trung lãnh đạo những nhiệm vụ trọng tâm; kịp thời chỉ đạo giải quyết những vấn đề phát sinh. Quan tâm chỉ đạo đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng, thực hiện nghiêm chế độ thông tin báo cáo và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ.
B- HẠN CHẾ, YẾU KÉM
Một là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ còn chậm. Số lượng các doanh nghiệp đăng ký hoạt động trên địa bàn tăng mạnh nhưng chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ, hoạt động trong các lĩnh vực thương mại, tiềm lực tài chính hạn chế, sức cạnh tranh thấp. Chưa có nhiều dự án đầu tư sản xuất công nghệ cao, quy mô sản xuất, nộp ngân sách lớn, thân thiện môi trường, giải quyết nhiều việc làm ở địa phương. Chất lượng, hiệu quả hoạt động của kinh tế tập thể nhìn chung còn hạn chế. Thu ngân sách trên địa bàn chưa đạt MTĐH, một số lĩnh vực thu chưa triệt để.
Việc chuyển đổi cơ cấu và phương thức canh tác sản xuất nông nghiệp còn chậm, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, phân tán còn khá phổ biến. Mô hình liên kết “4 nhà” trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tuy đã hình thành nhưng chưa thật bền vững; hiệu quả sản xuất nông nghiệp thấp hơn các ngành khác. Việc quản lý giống cây trồng, vật nuôi, phân bón chưa thật sự chặt chẽ.
Chất lượng một số quy hoạch còn thấp, nhất là quy hoạch xây dựng nông thôn mới. Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội đang trong quá trình đầu tư nên mới phát huy hiệu quả bước đầu. Công tác quản lý đất đai ở một số nơi chưa chặt chẽ. Tình trạng khai thác khoáng sản trái phép còn diễn ra. Ô nhiễm môi trường còn khá phổ biến, nhất là vấn đề rác thải sinh hoạt ở khu vực nông thôn.
Hai là, công tác xây dựng cơ sở vật chất trường học, trường chuẩn quốc gia, tỷ lệ kiên cố hóa còn thấp so với mặt bằng chung của tỉnh; chất lượng giáo dục chưa đồng đều giữa các bậc học; việc phân luồng đào tạo sau khi học sinh tốt nghiệp THPT còn hạn chế. Công tác đào tạo nghề chưa thực sự hiệu quả, chưa đáp ứng được yêu cầu; quy mô, chất lượng đào tạo tại cơ sở đào tạo nghề, cơ sở giáo dục ngoài công lập còn hạn chế. Tỷ lệ lao động có việc làm ổn định còn thấp.
Công tác quản lý nhà nước về hành nghề y dược tư nhân, chất lượng khám, chữa bệnh còn những hạn chế, bất cập. Công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm nhiều nơi chưa được quan tâm đúng mức. Trang thiết bị y tế ở tuyến xã chưa đáp ứng được yêu cầu khám, chữa bệnh ở cơ sở. Tỷ lệ phát triển dân số và sinh con lần 3 đã giảm, đạt MTĐH; tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh có chiều hướng tăng (năm 2014: 117,8 nam/100 nữ).
Việc thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang ở một số nơi chưa có kết quả rõ nét, thực hiện quy ước làng, khu phố chưa nghiêm. Kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững. Việc trùng tu một số di tích lịch sử còn chưa đúng quy định.
Ba là, chất lượng tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật có lúc, có nơi còn hạn chế, hiệu quả chưa cao. Công tác quản lý và khai thác tủ sách pháp luật ở cấp xã còn hạn chế. Tệ nạn ma túy, cờ bạc đã được ngăn chặn nhưng chưa được đẩy lùi; tình hình an ninh, trật tự ở một số nơi vẫn còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp, nhất là an ninh nông thôn. Việc thụ lý giải quyết một số vụ khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền ở một số cơ quan, đơn vị còn để kéo dài, quá thời gian quy định.
Bốn là, việc giải quyết thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu. Tinh thần, trách nhiệm, thái độ của một số cán bộ, công chức trong thực thi công vụ còn hạn chế. Hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ở một số xã chưa thực sự hiệu quả.
Năm là, công tác dân vận, nhất là dân vận chính quyền ở một số nơi chưa được quan tâm đúng mức. Vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở một số nội dung còn hạn chế; chất lượng hoạt động phong trào giữa các cơ sở chưa đồng đều. Tỷ lệ thu hút, tập hợp hội viên, đoàn viên của một số tổ chức còn thấp. Công tác tham mưu, đề xuất với cấp uỷ, chính quyền, các ngành, đoàn thể ở một số cơ sở còn hạn chế.
Sáu là, việc học tập, quán triệt nghị quyết còn biểu hiện hình thức; chất lượng báo cáo viên và chất lượng học tập, tiếp thu nghị quyết ở một số cơ sở còn hạn chế. Công tác nắm bắt tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân ở nhiều nơi chưa kịp thời; chưa quan tâm đúng mức việc giải quyết các vấn đề dư luận đặt ra. Chỉ đạo việc tổ chức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chưa có chiều sâu, chưa tạo được sự chuyển biến thực sự trong hành động của cán bộ, đảng viên; việc nhân rộng các điển hình tiên tiến chưa hiệu quả.
Một số chi bộ chưa thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt; nội dung sinh hoạt chi bộ chậm đổi mới; tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu, tinh thần tự phê bình và phê bình chưa cao. Tỷ lệ trưởng, phó thôn là đảng viên chưa đạt mục tiêu Đề án số 02-ĐA/TU đề ra. Việc thực hiện kế hoạch khắc phục những hạn chế, khuyết điểm sau kiểm điểm Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” ở một số nơi kết quả còn hạn chế; ý thức trách nhiệm của một số cán bộ, đảng viên trước công việc, trước nhân dân chưa cao; một số đồng chí đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng chưa thực sự phát huy vai trò gương mẫu.
Một số cấp uỷ, tổ chức đảng chưa quan tâm đúng mức đến việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát; chưa chủ động phát hiện, nắm tình hình để kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm. Một số tổ chức đảng và cấp uỷ cơ sở tổ chức kiểm tra, giám sát chưa đảm bảo quy trình theo quy định; việc giám sát theo chuyên đề còn hạn chế; chất lượng một số cuộc kiểm tra, giám sát chưa cao.
Một số đồng chí cấp uỷ viên chưa thực sự sâu sát cơ sở. Chưa gắn trách nhiệm của cấp uỷ viên phụ trách địa bàn, lĩnh vực đối với kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị được phân công phụ trách.
C- ĐÁNH GIÁ CHUNG
Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXII trong bối cảnh nhiều khó khăn, thách thức, Đảng bộ và nhân dân trong huyện đã đoàn kết, nỗ lực phấn đấu và đạt được nhiều kết quả nổi bật, toàn diện trên các lĩnh vực: kinh tế tăng trưởng khá, cơ cấu tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực; đời sống nhân dân được cải thiện; trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; diện mạo nông thôn và đô thị có nhiều khởi sắc; kết cấu hạ tầng có bước phát triển đột phá; văn hóa, xã hội tiếp tục có chuyển biến tiến bộ. Có nhiều đổi mới trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng được nâng lên; hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp có chuyển biến tích cực; hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội có tiến bộ. Khối đại đoàn kết toàn dân tiếp tục được củng cố; kỷ luật, kỷ cương, tinh thần trách nhiệm, tác phong, thái độ của đội ngũ cán bộ công chức trong thi hành công vụ được nâng lên.
Có được những thành quả trên là do các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, của tỉnh và huyện đề ra trong thời gian qua là đúng đắn, phù hợp, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, được đông đảo các tầng lớp nhân dân trong huyện ủng hộ và thực hiện. Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, toàn diện và có hiệu quả của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh; sự giúp đỡ của các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh.
Các cấp ủy đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể cùng toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân trong huyện đã phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất cao trong việc đề ra các biện pháp và tổ chức thực hiện nhiệm vụ; vận dụng sáng tạo, linh hoạt, cụ thể hoá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương…
Huyện uỷ và các cấp ủy cơ sở đã tập trung cao cho công tác củng cố và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ đảng viên; đã xây dựng và tổ chức thực hiện đồng bộ các kế hoạch, các biện pháp, chỉ đạo nhiều phong trào đi vào chiều sâu, nội dung thiết thực đối với từng loại hình tổ chức đảng, góp phần xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh. Vì vậy, chất lượng tổ chức đảng ở cơ sở được nâng lên đồng đều hơn, đơn vị trong sạch vững mạnh và các mặt trong sạch vững mạnh đảm bảo chất lượng hơn. Nhiều cấp uỷ có chuyển biến tích cực trong đổi mới phương thức lãnh đạo, phong cách, lề lối làm việc, xứng đáng là hạt nhân chính trị lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ ở địa phương, đơn vị.
Tuy nhiên, kết quả lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh, năng lực quản lý, điều hành của chính quyền ở một số nơi còn có những hạn chế nhưng chậm được khắc phục. Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở một số nơi chưa nghiêm. Kinh tế chưa có bước phát triển đột phá; chuyển đổi cơ cấu và phương thức canh tác sản xuất nông nghiệp còn chậm, chưa đồng bộ, chưa bền vững; sản xuất phần lớn mang tính nhỏ lẻ phân tán, ruộng đất manh mún, nên khó khăn trong chỉ đạo ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, đưa cơ giới vào sản xuất. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Nguồn thu trên địa bàn còn hạn chế, chưa ổn định. Tạo việc làm mới còn gặp nhiều khó khăn, đào tạo nghề chưa gắn với nhu cầu của thị trường. Tỷ lệ kiên cố hóa trường, lớp học, tỷ lệ trường học đạt chuẩn Quốc gia còn thấp hơn mặt bằng chung của tỉnh.
Công tác tổ chức xây dựng Đảng, công tác chính trị tư tưởng có những mặt chưa đáp ứng tình hình thực tế. Chất lượng sinh hoạt chi bộ còn bất cập. Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thể hiện vai trò tiền phong, gương mẫu; năng lực, trình độ thấp so với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Trách nhiệm của tập thể và cá nhân trong thực hiện một số nhiệm vụ chưa được phân định rõ ràng. Còn có những vi phạm của cán bộ, đảng viên chưa được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh.
Những hạn chế, yếu kém trên do nhiều nguyên nhân, song chủ yếu là do tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế với lối sống thực dụng, gây suy giảm về tư tưởng chính trị, đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân. Trong bối cảnh chung của nền kinh tế thế giới và trong nước đang gặp nhiều khó khăn, thị trường bất động sản đóng băng, nguồn vốn đầu tư còn hạn chế đã ảnh hưởng đến việc phát triển sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân. Trong lãnh đạo, điều hành chưa có nhiều chủ trương, cơ chế đột phá để phát huy các tiềm năng, lợi thế của địa phương nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế. Chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ có lúc, có việc chưa kiên quyết; chất lượng tham mưu một số ngành còn hạn chế. Một số cấp ủy cơ sở chưa tích cực đổi mới lề lối, tác phong làm việc để nâng cao năng lực lãnh đạo. Phẩm chất đạo đức, năng lực trình độ, ý thức trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, làm giảm lòng tin của nhân dân. Cơ chế, chính sách trong bồi thường giải phóng mặt bằng không ổn định, gây khó khăn cho việc thu hút đầu tư. Xây dựng một số mục tiêu chưa sát thực tế, chưa lường trước được những khó khăn, do đó khó có thể hoàn thành.
D- BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Một là, thường xuyên củng cố, xây dựng, phát huy truyền thống đoàn kết, trước hết là trong đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp, trên cơ sở giữ vững các nguyên tắc của Đảng, làm nòng cốt đoàn kết trong Đảng, trong hệ thống chính trị; chú trọng thực hiện các biện pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng; thường xuyên quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, ý thức phục vụ nhân dân là nhân tố quyết định thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của địa phương
Hai là, tích cực đổi mới phương thức trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện, hướng mạnh về cơ sở, tập trung cho cơ sở. Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể từ huyện đến cơ sở. Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện, tập trung giải quyết khó khăn, vướng mắc từ cơ sở. Lựa chọn nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hoặc những việc bức xúc để tổ chức thành các đợt cao điểm tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đạt kết quả.
Ba là, quan tâm đúng mức đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn; thực hiện tốt các chính sách an sinh, bảo đảm ổn định xã hội; tăng cường hỗ trợ người nghèo, đối tượng chính sách; chăm lo phát triển nguồn nhân lực. Đây là yếu tố quan trọng phát huy nội lực, tạo nền tảng ổn định xã hội, thu hút đầu tư và các nguồn lực bên ngoài thực hiện công nghiệp hoá- hiện đại hoá
Bốn là, tổ chức thực hiện phải cương quyết, năng động, sáng tạo, sâu sát thực tiễn; điều hành quyết liệt, công khai, minh bạch; phát huy dân chủ, trí tuệ tập thể đi đôi với đề cao vai trò, trách nhiệm của cá nhân, người đứng đầu; đẩy mạnh cải cách hành chính, mạnh dạn phân cấp cho cấp dưới, đi đôi với tăng cường kiểm tra, đôn đốc.
Năm là, coi trọng công tác vận động quần chúng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, biểu dương khen thưởng kịp thời những tập thể và cá nhân tiêu biểu. Đề cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong việc xây dựng đồng thuận xã hội, đoàn kết, tạo sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị đề ra.
Phần thứ hai
MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP NHIỆM KỲ 2015-2020
Bước vào giai đoạn 2015-2020, Hiệp Hoà có nhiều thuận lợi: Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong huyện có truyền thống đoàn kết, thống nhất, tích cực đổi mới trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý; tình hình chính trị – xã hội trên địa bàn ổn định; những thành tựu, kinh nghiệm đạt được trong nhiệm kỳ qua và 30 năm đổi mới cùng với nguồn lao động dồi dào, cần cù, sáng tạo, năng lực thực tiễn và trình độ của đội ngũ cán bộ được nâng lên sẽ được tiếp tục phát huy; Cầu Đông Xuyên – Mai Đình đã hoàn thành, thuận lợi cho thu hút đầu tư, phát triển kinh tế – xã hội; Cụm Công nghiệp Hợp Thịnh đã có nhà đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và nhà máy sản xuất; các cơ chế, chính sách, dự án của Trung ương, tỉnh hỗ trợ cho huyện đang phát huy tích cực như: phát triển hạ tầng đô thị, vùng ATKII,… Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức đó là: tiềm lực kinh tế còn hạn chế; kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế, nhất là lĩnh vực nông nghiệp còn bất cập; nguồn nhân lực dồi dào nhưng tỷ lệ chưa qua đào tạo còn cao; năng lực lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ của một số cấp uỷ, chính quyền chưa đáp ứng được yêu cầu; nhận thức, tư duy kinh tế của một số cán bộ lãnh đạo, đảng viên và người dân chậm đổi mới… Những thuận lợi và khó khăn trên tạo cả thời cơ và thách thức đan xen.
A- MỤC TIÊU
I- Mục tiêu tổng quát
Xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội thật sự trong sạch, vững mạnh; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân. Phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, văn hoá; bảo vệ môi trường; bảo đảm an sinh xã hội và cải thiện đời sống nhân dân. Bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định xã hội. Phát huy tiềm năng, thế mạnh, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài huyện; xây dựng Hiệp Hoà trở thành trung tâm, là động lực phát triển khu vực phía Tây của tỉnh Bắc Giang.
II- Chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2020
1– Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2015- 2020 (giá so sánh năm 2010) đạt từ 16% – 18%, trong đó: Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản đạt 6% – 8%; Công nghiệp, TTCN và xây dựng đạt 20% – 22%; Dịch vụ, thương mại đạt 19%-21%.
2– Cơ cấu giá trị sản xuất đến năm 2020: Nông – lâm nghiệp, thuỷ sản chiếm 29%; Công nghiệp- TTCN và xây dựng chiếm 43%; Thương mại, dịch vụ chiếm 28%.
3– Thu ngân sách trên địa bàn năm 2020 đạt 150 tỷ đồng.
4- Huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 2016 -2020 đạt khoảng 15 nghìn tỷ đồng.
5– Giá trị sản xuất 01 ha đất sản xuất nông nghiệp năm 2020 đạt 110 triệu đồng.
6– Đến năm 2020, có 12 xã đạt chuẩn nông thôn mới, 90 thôn đạt chuẩn “thôn nông thôn mới”, dồn điền đổi thửa 3.000 ha.
7– Tỷ lệ xã/thị trấn đạt Tiêu chí quốc gia về y tế 100%; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 85% dân số.
8– Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia 90%.
9– Tỷ lệ gia đình, cơ quan, đơn vị đạt tiêu chuẩn gia đình, cơ quan văn hóa 85%. Tỷ lệ làng, khu phố đạt danh hiệu làng, khu phố văn hoá 65%.
10– Giải quyết việc làm mới bình quân mỗi năm 5000 lao động. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 75%.
11– Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân hàng năm 1,0 %.
12– Tỷ lệ dân cư đô thị sử dụng nước sạch 100%.
13– Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ đạt 90%, trong đó: tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh đạt từ 50% trở lên. Tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên đạt 80%. Bình quân mỗi năm kết nạp 200 đảng viên.
B- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
I- Thực hiện đồng bộ các biện pháp đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, phát triển kết cấu hạ tầng và đô thị, xây dựng nông thôn mới
1- Tăng cường thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp, dịch vụ
– Tập trung tuyên truyền nâng cao nhận thức, tư duy về phát triển kinh tế cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Phát huy lợi thế về vị trí địa lý, nguồn nhân lực, hệ thống giao thông, đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư, phối hợp đẩy mạnh công tác lập kế hoạch, quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, đầu tư trung, dài hạn; tiếp tục quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, giải phóng mặt bằng… thu hút doanh nghiệp và các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp, thương mại và dịch vụ (trong đó, trọng tâm là giải phóng mặt bằng, thu hút đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp Châu Minh – Mai Đình, Cụm công nghiệp Hợp Thịnh, Cụm công nghiệp Đoan Bái). Khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động đầu tư vào vùng nông thôn, các doanh nghiệp sử dụng công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường đầu tư vào địa bàn; đẩy mạnh việc tiếp thu ngành nghề mới, mở rộng qui mô, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất các ngành nghề sẵn có như cơ khí, mây tre đan, đồ gỗ mỹ nghệ (trong đó, trọng tâm là thu hút đầu tư, đưa vào hoạt động các làng nghề Trung Hưng, Mai Hương…)
– Tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới kinh doanh thương mại, dịch vụ; nhất là hệ thống chợ nông thôn, các loại hình dịch vụ phục vụ tiêu thụ nông sản cho nông dân. Đẩy mạnh phát triển, xã hội hóa các dịch vụ ngân hàng, thông tin – viễn thông, truyền hình, vận tải, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, giáo dục, đào tạo nghề, ứng dụng khoa học, công nghệ; phát triển mạnh các dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống ở khu vực nông nghiệp, nông thôn và khu, cụm công nghiệp.
2- Hỗ trợ và tạo môi trường thuận lợi phát triển doanh nghiệp, kinh tế tập thể, tăng thu ngân sách
– Tạo điều kiện cho các loại hình doanh nghiệp phát triển và hoạt động thuận lợi theo pháp luật; phát triển các loại hình kinh tế tập thể, chú trọng phát triển các trang trại ở nông thôn; khuyến khích hình thành các hợp tác xã, nhất là hợp tác xã kiểu mới cung ứng cho xã viên dịch vụ, nguyên liệu đầu vào, hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm…
– Quan tâm công tác quảng bá, xúc tiến đầu tư; trước hết, xây dựng hình ảnh đẹp về môi trường đầu tư thông qua việc tích cực, chủ động hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp hiện đang đầu tư, sản xuất, kinh doanh và các doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư trên trên địa bàn.
– Thực hiện tốt nhiệm vụ thu ngân sách, khai thác có hiệu quả các nguồn thu, chống thất thu và nợ đọng thuế; tập trung chỉ đạo thu triệt để nợ đọng tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, khai thác tài nguyên, khoáng sản, xây dựng cơ bản trong dân cư; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra thuế.
3- Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hàng hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới
– Phát huy lợi thế của huyện về sản xuất nông nghiệp, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá; tiếp tục thực hiện dồn điền, đổi thửa gắn với xây dựng cánh đồng mẫu lớn; quy hoạch, mở rộng một số vùng sản xuất hàng hoá tập trung như lúa thâm canh cao, lạc, rau chế biến, xuất khẩu, nuôi trồng thuỷ sản thâm canh cao, chăn nuôi lợn, gà giống, các vùng sản xuất chuyên canh và phát triển thương hiệu sản phẩm (Nếp cái hoa vàng Thái Sơn, Bưởi Diễn Lương Phong, Rau cần Hoàng Lương); chú trọng xây dựng các mô hình, chuỗi liên kết cung cấp dịch vụ sản phẩm nông nghiệp an toàn phục vụ nhu cầu của công nhân, người lao động trong các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn; từng bước tham gia Cụm tương hỗ nông sản, khu nông nghiệp chất lượng cao.
– Xây dựng quy hoạch sản xuất nông nghiệp hàng hóa, gắn sản xuất với chế biến và thị trường; đưa nhanh cơ giới hóa, tiến bộ khoa học công nghệ, các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao vào sản xuất. Tiếp tục có cơ chế hỗ trợ đầu tư cho lĩnh vực sản xuất nông nghiệp; khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, nhất là kinh doanh chế biến nông, lâm, thủy sản; quan tâm phát triển vùng cây ăn quả trên diện tích đồi thấp, ruộng cao và vùng bãi ven sông Cầu.
– Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi và thuỷ sản, đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính trong nông nghiệp; phấn đấu đến năm 2020 giá trị sản xuất ngành chăn nuôi chiếm 60% giá trị sản xuất nông nghiệp; tiếp tục chuyển dịch các vùng đất trũng, trồng lúa năng suất thấp sang nuôi trồng thủy sản.
– Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới theo chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh và phương châm đã xác định tại Chỉ thị số 07-CT/HU ngày 05/12/2013 của Ban Thường vụ Huyện ủy lấy địa bàn thôn là đơn vị để triển khai với phương châm “Từ đồng về nhà, từ nhà ra thôn, từ thôn lên xã”; quán triệt sâu sắc tinh thần xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm, xuyên suốt của nhiệm kỳ 2015 – 2020. Chú trọng nhân rộng các mô hình tiêu biểu trong xây dựng nông thôn mới.
4- Đầu tư nâng cấp kết cấu hạ tầng; phát triển đô thị; tăng cường các biện pháp quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường.
– Ưu tiên phát triển hạ tầng giao thông, đô thị, hạ tầng phục vụ phát triển công nghiệp; hỗ trợ những địa bàn có nhiều khó khăn. Tập trung chỉ đạo, đầu tư và tranh thủ sự ủng hộ của cấp trên để đầu tư nâng cấp kết cấu hạ tầng, phát triển đô thị (tập trung xây dựng thị trấn Thắng mở rộng, các thị tứ, khu dân cư, các điểm dịch vụ, thương mại trong nông thôn, phối hợp tham mưu thực hiện tốt dự án BOT đường nối đường cao tốc Hà Nội – Lạng Sơn với đường cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên). Triển khai hiệu quả các dự án đầu tư cho các xã ATKII; đẩy mạnh xã hội hoá, huy động các nguồn lực để tiếp tục thực hiện cứng hoá đường giao thông nông thôn, kênh mương nội đồng, xây dựng mới và nâng cấp các công trình hạ tầng giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội.
– Nâng cao hiệu quả công tác quản lý, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, nhất là quản lý đất đai, khai thác tài nguyên khoáng sản. Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của mọi người dân về bảo vệ môi trường. Quan tâm đầu tư và có cơ chế ưu đãi để huy động các nguồn lực thực hiện xã hội hóa bảo vệ môi trường; mở rộng hệ thống cung cấp nước sạch cho đô thị, khu, cụm công nghiệp và vùng nông thôn; xử lý rác thải sinh hoạt khu vực nông thôn.
II- Đẩy mạnh thực hiện các giải pháp, tạo bước chuyển mới trong lĩnh vực văn hóa, xã hội
1- Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ.
Thực hiện có hiệu quả chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI). Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Chú trọng đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng chú trọng phát huy năng lực của người học; quan tâm rèn luyện kỹ năng cho học sinh. Nâng cao chất lượng dạy và học, chú trọng chất lượng đại trà, phát triển chất lượng mũi nhọn, quan tâm nâng cao chất lượng dạy tiếng Anh cho học sinh phổ thông. Đổi mới công tác quản lý giáo dục, đào tạo và dạy nghề; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề; coi trọng quản lý chất lượng. Đẩy mạnh xã hội hoá, ưu tiên đầu tư tăng cường cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục, đào tạo và dạy nghề. Chú trọng nâng cao chất lượng công tác đào tạo nghề, đẩy mạnh thực hiện công tác hướng nghiệp, các chương trình dạy nghề, nhất là dạy nghề cho lao động nông thôn gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn. Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trên các lĩnh vực.
2- Xây dựng và phát triển môi trường văn hóa, thông tin, thể thao lành mạnh, phong phú, đa dạng.
Chú trọng xây dựng đời sống văn hóa, môi trường văn hóa lành mạnh; nếp sống văn hóa tiến bộ, phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc. Quan tâm giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống cho thanh thiếu niên. Tiếp tục nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; trọng tâm là xây dựng gia đình, làng, bản, tổ dân phố, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp văn hoá đưa phong trào đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả. Đẩy mạnh việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; ngăn chặn, đẩy lùi các hủ tục, các tệ nạn xã hội. Bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử văn hóa của huyện, đặc biệt là khu di tích ATK2… Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa, thể thao; nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân. Phát triển phong trào thể thao quần chúng; lựa chọn một số môn thể thao mũi nhọn của huyện để phát triển thể thao thành tích cao. Nâng cao chất lượng thông tin, truyền thanh. Quản lý tốt nội dung, tăng hiệu quả các trang thông tin điện tử.
3- Nâng cao chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân; chất lượng dân số, gia đình, trẻ em.
Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, đầu tư nâng cấp hệ thống y tế cơ sở, bổ sung trang thiết bị y tế tuyến xã, từng bước đáp ứng được nhu cầu khám, chữa bệnh ở cơ sở; tăng tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế, đẩy mạnh công tác quản lý và phòng chống dịch bệnh. Tăng cường công tác quản lý hành nghề y dược tư nhân. Thực hiện tốt chính sách dân số, KHHGĐ, phấn đấu đạt chỉ tiêu giảm sinh và ngăn ngừa mất cân bằng giới tính. Nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực dân số gắn với cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và KHHGĐ; từng bước nâng cao chất lượng dân số và chỉ số phát triển con người; chăm lo xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, tạo môi trường lành mạnh để trẻ em phát triển toàn diện.
4- Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, quan tâm giải quyết việc làm, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân.
Thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách đối với người có công, các đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo. Chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu lao động; nâng cao chất lượng lao động; làm tốt công tác giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động. Tăng cường giám sát, kiểm tra việc thực hiện các chính sách đối với người lao động trong các doanh nghiệp, nhất là các chế độ tiền lương, bảo hiểm, bảo hộ lao động; cải thiện điều kiện làm việc; giảm tai nạn lao động. Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Thực hiện tốt chính sách bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.
Đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo; đa dạng hoá các nguồn lực để giảm nghèo. Tiến hành lồng ghép các chương trình, dự án phát triển kinh tế– xã hội với thực hiện mục tiêu giảm nghèo; gắn giảm nghèo với phát triển kinh tế, giải quyết việc làm để giảm nghèo bền vững.
III- Tăng cường công tác nội chính, bảo đảm giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc với phát triển kinh tế – xã hội. Tích cực xây dựng khu vực phòng thủ; từng bước đầu tư mua sắm trang thiết bị, phương tiện phòng chống thiên tai; bổ sung hoàn chỉnh các phương án tác chiến; tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ, diễn tập phòng chống lụt bão. Làm tốt công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp. Chỉ đạo các cơ quan tư pháp phối hợp chặt chẽ, đồng bộ trong việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không để oan, sai. Thực hiện tốt công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, lãng phí.
IV- Nâng cao chất lượng hoạt động và tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp
Tiếp tục đổi mới hoạt động của HĐND các cấp, nâng cao chất lượng giám sát, tổ chức các kỳ họp, xây dựng nghị quyết. Duy trì tốt quy chế phối hợp giữa Thường trực HĐND với UBND và Ủy ban MTTQ cùng cấp trong tổ chức thực hiện nghị quyết của HĐND và trách nhiệm người đứng đầu trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng điều hành của chính quyền các cấp. Phát huy hiệu quả hoạt động của bộ phận “một cửa” huyện, xã; xây dựng thành công bộ phận một cửa điện tử. Thực hiện chặt chẽ việc đánh giá công tác thi đua khen thưởng, gắn với kết quả thực hiện các chỉ tiêu KT- XH. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ; các quy định về chế độ công khai, minh bạch. Tăng cường đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực thực tiễn cho đội ngũ cán bộ, công chức.
V- Tăng cường công tác dân vận; tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
Quan tâm thực hiện tốt công tác dân vận của cả hệ thống chính trị, nhất là công tác dân vận chính quyền; đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao vai trò giám sát, phản biện xã hội của MTTQ và các đoàn thể. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động, nhân rộng các mô hình điển hình “Dân vận khéo” trong xây dựng nông thôn mới gắn với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Thực hiện QCDC ở các loại hình cơ sở. Thường xuyên nắm chắc tình hình nhân dân, giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc ở địa phương. Thực hiện tốt chính sách tôn giáo.
VI- Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng cán bộ, đảng viên; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh
1- Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chính trị, tư tưởng.
Chú trọng chất lượng đội ngũ báo cáo viên và chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết. Thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 03-CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Đề án 01-ĐA/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về “Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tư tưởng trong tình hình mới” và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần học tập và rèn luyện về đạo đức, lối sống, chính trị, tư tưởng, tính tiền phong gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đội ngũ đoàn viên, thanh niên. Đẩy mạnh đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
2- Thực hiện tốt công tác tổ chức xây dựng Đảng.
Tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, bảo đảm giữ vững vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở. Đổi mới nội dung, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế chất vấn và trả lời chất vấn; mở rộng và phát huy dân chủ trong Đảng gắn với tăng cường kỷ cương, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất. Quan tâm bồi dưỡng, tạo nguồn kết nạp đảng viên, nhất là đội ngũ trưởng, phó thôn và công nhân, người lao động trong các loại hình doanh nghiệp. Đẩy mạnh việc đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ, đặc biệt quan tâm đội ngũ cán bộ đoàn, cán bộ trẻ, cán bộ nữ có triển vọng; sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định, quy chế, quy trình về công tác cán bộ. Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ.
3- Thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát.
Các cấp ủy và uỷ ban kiểm tra các cấp cần chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng với trách nhiệm và quyết tâm chính trị cao, với tinh thần kiên quyết, kiên trì, thực sự dân chủ. Tăng số lượng các cuộc giám sát, chú trọng giám sát đối với những vấn đề nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực. Kết hợp chặt chẽ công tác kiểm tra, giám sát của cấp uỷ đảng với công tác giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị- xã hội và của nhân dân.
4- Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nêu cao vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành và toàn thể cán bộ, đảng viên. Đôn đốc, kiểm tra, đánh giá việc đăng ký và ghi sổ nhật ký làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Làm tốt công tác khen thưởng những tập thể và cá nhân có thành tích trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác; nhân rộng các điển hình tiên tiến.
5- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” nhằm đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng suy giảm về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh việc thực hiện kế hoạch khắc phục những hạn chế sau kiểm điểm. Gắn việc kiểm điểm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) với đánh giá, phân loại tổ chức đảng và đảng viên, cán bộ, công chức hằng năm.
6- Đổi mới phương thức lãnh đạo, lề lối làm việc của các cấp ủy, tổ chức đảng.
Tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn, sâu sát cơ sở. Thực hiện nghiêm Quy chế làm việc, đổi mới lề lối làm việc, phát huy trí tuệ tập thể, trách nhiệm của cá nhân với tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; chủ động đề xuất chủ trương, biện pháp chỉ đạo và thực hiện nhiệm vụ, nhất là lãnh đạo phát triển kinh tế- xã hội. Trong lãnh đạo, chỉ đạo cần có trọng tâm, trọng điểm, mạnh dạn đề ra các chủ trương, biện pháp có tính đột phá.
C- MỘT SỐ NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM TRONG NHIỆM KỲ 2015-2020
Một là, tập trung đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp kết cấu hạ tầng (ưu tiên hạ tầng giao thông, đô thị và hạ tầng công nghiệp). Phối hợp hiện dự án BOT đường nối đường cao tốc Hà Nội – Lạng Sơn với đường cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên; đầu tư nâng cấp thị trấn Thắng đủ điều kiện để thành lập thị xã sau năm 2020; xây dựng mới chợ Trung tâm huyện; tập trung giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện thu hút doanh nghiệp đầu tư hạ tầng các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn, đặc biệt ưu tiên Cụm công nghiệp Hợp Thịnh và Khu công nghiệp Châu Minh – Mai Đình.
Hai là, tập trung huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực đầu tư xây dựng nông thôn mới. Đẩy mạnh “dồn điền đổi thửa”, phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá.
Ba là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính; nâng cao chất lượng, tính chuyên nghiệp, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, đặc biệt là cán bộ, công chức trực tiếp tiếp xúc với người dân. Đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các cấp, các ngành trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ.
Bốn là, tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết TW4 (khóa XI) “một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý từ huyện đến cơ sở có bản lĩnh chính trị, trách nhiệm, đủ năng lực, uy tín và có tư duy đột phá để lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện có kết quả các nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới.
*
* *
Phát huy những thành tựu đạt được trong nhiệm kỳ vừa qua, vận dụng sáng tạo kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo của 30 năm đổi mới, Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hòa tiếp tục đoàn kết, sáng tạo, khắc phục khó khăn, đẩy mạnh thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, kết cấu hạ tầng đô thị, đưa Hiệp Hòa trở thành “Trung tâm phát triển phía Tây” của tỉnh Bắc Giang./.
|
|
T/M HUYỆN UỶ BÍ THƯ Mai Sơn |





Bình luận về bài viết này