Ngoài những đề tài về chiến tranh, hậu chiến, thế sự, mảng đề tài về lịch sử và tôn giáo của nhà văn Lê Hoài Nam luôn tạo được sức hấp dẫn riêng bởi vốn hiểu biết sâu rộng và cách kể chuyện giàu sức cuốn hút. Qua mỗi tác phẩm, người đọc không chỉ được bồi đắp thêm hiểu biết về lịch sử, văn hóa mà còn cảm nhận sâu sắc những giá trị nhân văn mà tác giả gửi gắm. Ba truyện ngắn “Trời Tây xa lắc”, “Bữa tiệc ly” và “Đêm Thánh” đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng và suy ngẫm.

1.“Trời Tây xa lắc” và nỗi niềm của bậc trí thức yêu nước

Truyện ngắn “Trời Tây xa lắc” lấy cảm hứng từ sự kiện lịch sử về hai chuyến công cán của Bùi Viện. Ông được xem là vị sứ giả đầu tiên của triều Nguyễn sang Hoa Kỳ, gặp Tổng thống Ulysses Grant vào các năm 1874 và 1875 với mong muốn thiết lập quan hệ ngoại giao, mong được sự ủng hộ của Hoa Kỳ giúp Đại Nam chống Pháp.

Trong chuyến đi đầu tiên, Bùi Viện được Tổng thống Mỹ đón tiếp trọng thị, thân tình và cởi mở. Bằng trí tuệ sắc sảo cùng bản lĩnh và tài ứng xử khôn khéo, ông đã tạo được thiện cảm và sự đồng thuận từ phía đối tác. Khi bản hiệp ước bang giao được phía Mỹ soạn thảo xong, chỉ còn chờ chữ ký của hai bên để chính thức có hiệu lực thì Bùi Viện lại không thể hạ bút ký. Bởi trong chuyến đi ấy, vua Tự Đức chỉ giao cho ông nhiệm vụ thăm dò, tìm kiếm đối tác, chứ chưa trao quyền ký kết. Thật đáng tiếc biết bao! Bùi Viện đành quay về xin chỉ dụ của nhà vua.

Một năm sau, được sự tin tưởng giao nhiệm vụ của vua Tự Đức, Bùi Viện lại dẫn đầu phái đoàn vượt trùng dương sang Hoa Kỳ với hy vọng hoàn thành việc ký kết hiệp ước để giúp Đại Nam chống Pháp. Thế nhưng, sau bao tháng ngày lênh đênh trên biển, khi đặt chân tới nơi, ông bàng hoàng hay tin Hoa Kỳ đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Pháp trước đó không lâu. Mọi hy vọng bỗng chốc tan biến. Chuyến đi thứ hai cũng khép lại trong nỗi thất vọng ê chề.

Điều cuốn hút tôi ở truyện ngắn này không chỉ là câu chuyện lịch sử mà còn ở nghệ thuật kể chuyện đầy hấp dẫn của nhà văn Lê Hoài Nam. Từ những tư liệu lịch sử xác thực, kết hợp với trí tưởng tượng phong phú, giàu sức sáng tạo và sự thấu hiểu nhân vật, tác giả đã tái hiện hình ảnh Bùi Viện một cách chân thực và thuyết phục. Qua hai lần diện kiến Tổng thống Hoa Kỳ, Bùi Viện hiện lên là một người thông minh, sắc sảo, bản lĩnh, khéo léo trong đối đáp và ứng xử, khiến người đứng đầu nước Mỹ phải nhìn nhận nước ta với sự tôn trọng, không thể xem thường. Trở về triều đình, ông cũng không né tránh sự thật mà thẳng thắn tâu trình với vua Tự Đức về kết quả chuyến đi đầu tiên. Chính sự trung thực và tinh thần trách nhiệm ấy tuy khiến nhà vua không khỏi ngạc nhiên, thậm chí nổi giận, nhưng cuối cùng vẫn đặt trọn niềm tin, phong chức quan chánh sứ và tiếp tục giao cho ông trọng trách trong chuyến đi lần thứ hai để thay mặt triều đình ký kết một hiệp ước quan trọng nhằm tìm kiếm sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ trong cuộc đối đầu với thực dân Pháp.

Tuy không đạt được mục đích như mong muốn do hoàn cảnh khách quan nhưng hình ảnh Bùi Viện đã bộc lộ trọn vẹn một con người thông tuệ, giàu bản lĩnh, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng dấn thân vì vận mệnh dân tộc. Ông còn là một bề tôi trung trực, giữ trọn đạo quân thần và luôn đặt lợi ích của đất nước lên trên hết. Cách xây dựng nhân vật của nhà văn vừa bám sát lịch sử, vừa làm toát lên đặc điểm nhân vật đã giúp hình tượng Bùi Viện trở nên gần gũi, chân thực, để lại nhiều tình cảm yêu mến trong lòng bạn đọc.

Tôi cũng rất ấn tượng với nhan đề “Trời Tây xa lắc”. Chỉ bằng bốn chữ ngắn gọn, nhà văn đã gợi lên một cảm giác xa xôi, vời vợi như một tiếng thở dài đầy tiếc nuối về một khát vọng còn dang dở. Xa ở đây không chỉ là khoảng cách địa lý, mà còn là khoảng cách của một cơ hội cứu nước đã không thể trở thành hiện thực khi đất nước đang đứng trước họa ngoại xâm. Câu chuyện đã giúp tôi hiểu thêm về Bùi Viện (1839 – 1878) – một nhà cải cách, ngoại giao có tư duy đổi mới dưới triều vua Tự Đức. Ông còn có nhiều công lao đóng góp trong phát triển kinh tế, xây dựng lực lượng bảo vệ vùng biển và mở mang cửa biển Hải Phòng.

Với những cống hiến lớn lao cho đất nước, dù đã hơn một thế kỷ trôi qua, tên tuổi Bùi Viện vẫn được hậu thế trân trọng qua cách đặt tên đường phố mang tên ông. Ở hai thành phố lớn của cả nước là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đều có phố Bùi Viện, là phố đi bộ đông vui, sầm uất, thu hút đông đảo người dân và du khách. Đó cũng là một cách để các thế hệ hôm nay bày tỏ lòng tri ân đối với một nhà canh tân yêu nước đã dành trọn tâm huyết cho vận mệnh dân tộc.

Phố Bùi Viện ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh về đêm.

2. Từ số phận con người đến sức sống của nghệ thuật qua “Bữa tiệc ly” và “Đêm Thánh”

Nếu “Trời Tây xa lắc” để lại trong tôi hình ảnh sâu đậm về Bùi Viện – một trí thức yêu nước luôn đau đáu trước vận mệnh dân tộc, thì “Bữa tiệc ly” và “Đêm Thánh” lại mang đến những suy ngẫm về số phận con người và sức sống bền bỉ của những giá trị nghệ thuật trường tồn với thời gian.

Ở “Bữa tiệc ly”, điều khiến tôi ấn tượng không chỉ là tài năng của danh họa Leonardo da Vinci qua những kiệt tác để đời, mà còn là số phận đầy ám ảnh của Italo Aquilea – người được chọn làm mẫu vẽ Chúa Giêsu. Từ một chàng trai có gương mặt trong sáng, thánh thiện, chiến tranh và đói nghèo đã đẩy anh vào con đường tha hóa, trở thành một kẻ phạm tội chỉ vì miếng cơm manh áo. Đến ngày ra tù, chính danh họa Leonardo da Vinci cũng không còn nhận ra người thanh niên làm mẫu năm nào. Và rồi, ngay cả bậc danh họa tài danh ấy cũng bất lực trước sự nghiệt ngã của số phận.

Câu chuyện khép lại nhưng để lại trong lòng người đọc nhiều day dứt. Chiến tranh không chỉ cướp đi sự bình yên của cuộc sống mà còn có thể làm xói mòn nhân tính, làm biến dạng cả hình hài lẫn tâm hồn con người. Đằng sau số phận của Italo Aquilea, dường như là lời nhắc nhở thấm thía về hoàn cảnh khắc nghiệt có thể đẩy con người đến tận cùng bi kịch. Và có lẽ, qua câu chuyện, nhà văn cũng gửi gắm tới người đọc thêm trân trọng giá trị của hòa bình, của lòng nhân ái và phần thiện lương trong mỗi con người trước những nghiệt ngã của cuộc đời.

Còn truyện “Đêm Thánh”, tác giả lại đưa người đọc đến với hành trình ra đời của ca khúc Giáng sinh nổi tiếng cùng tên. Bài hát được sáng tác để ca ngợi sự ra đời của Chúa Giêsu và bày tỏ niềm vui của người dân châu Âu khi thoát khỏi ách thống trị của Hoàng đế Napoleon. Hơn hai thế kỷ qua, mỗi mùa Giáng sinh về, giai điệu thiêng liêng ấy lại ngân vang khắp nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam, mang đến cảm giác bình yên, ấm áp và kết nối con người lại gần nhau hơn. Điều khiến người đọc xúc động là tác phẩm bất hủ ấy không được sáng tạo bởi những nhạc sĩ lừng danh như Mozart hay Beethoven, mà lại được viết ra từ tâm huyết của cha Mohr cùng người thầy giáo làng Gruber trong một hoàn cảnh vô cùng gấp gáp và thiếu thốn.

Với mong muốn cháy bỏng của vị linh mục đứng đầu nhà thờ Thánh Nicholas là trong đêm Giáng sinh phải có một bài hát mừng Chúa giáng sinh. Thế nhưng, hoàn cảnh lúc ấy lại vô cùng ngặt nghèo: ngôi làng nhỏ nghèo khó, hẻo lánh ở nước Áo, cây đại phong cầm của nhà thờ cũng đã hỏng. Trong đêm tuyết phủ trắng trời, cha Mohr đã mang theo bài thơ đầu tay của mình, băng qua những nẻo đường giá lạnh để tìm đến người thầy giáo làng dạy nhạc tên là Gruber với mong muốn cộng tác để viết nên một ca khúc cho đêm Giáng sinh khi thời khắc thiêng liêng đã cận kề.

Và rồi trong những giây phút thăng hoa của một tâm hồn nghệ sĩ, “Gruber như mê man bay bổng với những hợp âm. Khoảng hai tiếng đồng hồ sau, bài hát đã được viết xong. Gruber vội vã bỏ bản nhạc chép tay vào túi, mặc đồ ấm, khoác cây guitar lên vai đi đến nhà thờ”. Đón nhận tác phẩm, cha Mohr không giấu được niềm vui và nói: “Anh đã làm được hơn là ta mong muốn đấy”. Sau đó, cả hai người đã trực tiếp dạy cho ca đoàn bài hát này khoảng hơn một tiếng. Đúng vào thời khắc thiêng liêng, bài thánh ca  được cất lên với những giai điệu vừa trang trọng, vừa tha thiết, chất chứa niềm hân hoan mừng Chúa Giêsu ra đời. Những gương mặt và ánh mắt của giáo dân trong thánh đường đều tràn đầy xúc động, hồng hào, ấm nóng như không hề có cơn mưa tuyết cực lạnh đang gào rú bên ngoài. Chính sự đồng điệu và thăng hoa của hai tâm hồn thơ và nhạc đã làm nên một tuyệt phẩm bất hủ trong “Đêm Thánh vô cùng”.

Vượt qua mọi biên giới, vào cuối thế kỷ 19, nhạc phẩm này đã được dịch ra hơn 20 ngôn ngữ khác nhau và trở thành một bài hát không thể thiếu trong dịp lễ Giáng sinh. Đến năm 1960, ca khúc này được ghi nhận có số lần thu âm nhiều nhất trong lịch sử âm nhạc thế giới.

Thế nhưng, khi những người đã sáng tạo nên bản thánh ca ấy đã yên nghỉ, một số tờ báo và nhà xuất bản ở Thụy Sĩ cùng nhiều nước châu Âu đã ngang nhiên gạch bỏ tên hai tác giả ít người biết đến để thay bằng những tên tuổi lừng danh như Bach, Beethoven hay Handel. Chỉ đến khi những chứng cứ xác thực được đưa ra, họ mới buộc phải thừa nhận cha Mohr và người thầy giáo làng Gruber là đồng tác giả của bài hát. Dẫu sự thật có lúc bị che lấp bởi những bất công ngang trái thì cuối cùng nó vẫn được trả về đúng vị trí của mình và lưu dấu trong lòng hậu thế.

Kết thúc câu chuyện, điều đọng lại trong tôi là sự ra đời đặc biệt của bài thánh ca, gắn với tên tuổi cha Mohr và người thầy giáo làng Gruber, cùng sức sống bền bỉ của nghệ thuật. Đã hơn hai thế kỷ đã trôi qua, giai điệu ấy vẫn ngân vang trong mỗi mùa Giáng sinh, như một minh chứng rằng những tác phẩm được viết bằng tài năng và rung cảm chân thành sẽ luôn có sức lay động trái tim con người.

Ba truyện ngắn của nhà văn Lê Hoài Nam

Như vậy, cả ba truyện ngắn kể trên đều để lại nhiều dư âm trong lòng người đọc. Với vốn hiểu biết sâu rộng về lịch sử, văn hóa, tôn giáo, âm nhạc cùng nghệ thuật kể chuyện giàu sức cuốn hút và sáng tạo, nhà văn Lê Hoài Nam đã mang đến những tác phẩm vừa hấp dẫn, vừa giàu giá trị nhân văn, gợi nhiều suy ngẫm về số phận con người, về giá trị của nghệ thuật và những điều tốt đẹp sẽ còn mãi với thời gian.

Và còn nhiều truyện ngắn đặc sắc khác của nhà văn mà tôi chưa có dịp đọc và cảm nhận hết. Mỗi tác phẩm là một lát cắt của lịch sử, văn hóa hay thân phận con người, để lại trong lòng người đọc những suy ngẫm riêng. Điều khiến tôi ấn tượng hơn cả là vốn kiến thức văn sâu rộng, ngôn từ phong phú, giàu sức gợi cùng lối kể chuyện linh hoạt của một cây bút giàu trải nghiệm và tâm huyết với nghề. Chính những điều ấy đã khơi gợi trong tôi nguồn cảm hứng, để viết lên những bài cảm nhận bằng tất cả sự rung động chân thành của một độc giả dành cho những tác phẩm đã chạm đến trái tim mình.

(Nguồn ảnh sử dụng trong bài viết từ Internet)

Hà Nội, tháng 7 năm 2026

Phạm Thị Hường

Bình luận về bài viết này

Thịnh hành