Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy những điều rất hay, rất đúng về đạo đức cách mạng và chính Người là tấm gương tiêu biểu của nền đạo đức mang tính nhân văn sâu sắc. Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng đã đạt đến sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa lý luận và thực tiễn, giữa việc công và đời tư. Trọn cuộc đời, Người phấn đấu trau dồi và kiên trì giáo dục cán bộ, đảng viên phải rèn luyện đạo đức cách mạng.

Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự hội tụ đẹp nhất, tuyệt vời nhất và trọn vẹn nhất về phẩm chất đạo đức cách mạng. Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, bởi: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.”
Suốt đời, Người đã không ngừng tự tu dưỡng, tự rèn luyện mình về đạo đức, trở thành hình ảnh mẫu mực về “người lãnh đạo và người đày tớ trung thành của nhân dân,” chẳng những có sức lôi cuốn, cảm hóa mãnh liệt đối với toàn thể dân tộc, mà còn ảnh hưởng sâu rộng trên toàn thế giới.
Đạo đức mà Người nêu cao là đạo đức hành động, được thể hiện sinh động trong lối sống, trong từng việc làm hằng ngày. Đó là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; là tinh thần vị tha, lối sống giản dị, gần gũi, hòa mình với Nhân dân.
Về “cần,” Bác đã lao động, học tập, nghiên cứu không biết mệt mỏi để tìm ra con đường cứu nước; cùng với Đảng tổ chức, lãnh đạo nhân dân làm cách mạng thành công.
Về “kiệm,” Bác chính là tấm gương điển hình về tính giản dị, thanh bạch. Dù là lãnh tụ của cả một quốc gia, nhưng Người luôn giản dị hết mức, từ ăn (cá kho, dưa chua, cà muối); mặc (bộ bà ba sờn cũ với đôi dép cao su hay bộ ka ki màu vàng với đôi giày vải); đến ở (lúc ở chiến khu thì ở chung với cán bộ, nhân viên, về Hà Nội ở nhà của người thợ điện, sau này ở trong nhà sàn đơn sơ với vài vật dụng cá nhân tối cần thiết). Ngay cả trong công việc Bác cũng rất đề cao tính tiết kiệm, “khi không nên xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu.”
Về “liêm,” sự thanh liêm của Người đã được thể hiện rõ nét qua từng lời nói, hành động. Không những không bao giờ có ý nghĩ tư lợi cá nhân, Người còn luôn trăn trở, nghĩ cách làm sao để dân mình có cuộc sống tốt hơn, làm sao để “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.”
Về “chính,” Người luôn khiêm tốn, kính trên nhường dưới, yêu thương, quan tâm đến mọi tầng lớp trong xã hội, nhất là những người nghèo khổ. Đặc biệt, Người không màng đến hạnh phúc cá nhân mà luôn đặt lợi ích của dân tộc lên trước hết, và đã hy sinh cả cuộc đời để mang lại nền độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân.
Đi đôi với tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng là đấu tranh chống lại những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, của thói quan liêu, tham nhũng, hách dịch và lạm dụng quyền lực.
Người gọi chủ nghĩa cá nhân là “giặc nội xâm,” là căn bệnh nguy hiểm nhất đối với người cán bộ cách mạng. Người nhấn mạnh: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân.” Cảnh báo ấy còn nguyên giá trị đến hôm nay.
Và trong bản Di chúc thiêng liêng, điều Người trăn trở đến cuối đời vẫn là “phải chăm lo đời sống của Nhân dân,” phải “bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho thế hệ sau,” phải giữ cho Đảng ta “thật trong sạch, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân.” Những lời căn dặn ấy không chỉ thể hiện tâm nguyện cuối đời của một lãnh tụ mà còn là một tấm gương sáng về sự tận tụy, yêu thương và đức hy sinh vô hạn.
Khánh Hòa(TH)





Bình luận về bài viết này